Sổ Tay Bắt Ma Của Kẻ Gom Xác
Chương 51: Hồ sơ vụ án năm 1975

Cập nhật lúc: 2026-07-02 16:44:03 | Lượt xem: 3

“Đồng chí Quỳnh, điên rồi à? Đột nhập vào kho lưu trữ mật vào giờ này, lại còn trong đêm bão bùng thế này, nếu bị phát hiện thì cả tôi và đồng chí đều bay màu khỏi ngành đấy!”

Bên ngoài cửa sổ hành lang tầng ba của Sở Cảnh sát, trận bão cuối năm 1995 đang điên cuồng trút giận xuống Hà Nội. Những tia chớp xanh lét rạch ngang bầu trời đen kịt như muốn xé toạc màn đêm, rọi tỏ những hạt mưa quất xối xả vào lớp cửa chớp gỗ đã mục nát, phát ra những tiếng gầm rú ghê rợn. Gió rít qua từng khe cửa, mang theo cái lạnh thấu xương của mùa đông miền Bắc, thổi bùng lên nỗi cô độc và căng thẳng tột độ trong lòng Vũ Thúy Quỳnh.

Tôi khẽ thở dài, đưa bàn tay trái lên vuốt lại vài sợi tóc mai bị nước mưa làm bết vào trán, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào gã cảnh sát trẻ đang đứng chắn trước cửa phòng lưu trữ. Nghĩa – gã đàn em khóa dưới từng được tôi gánh còng lưng trong một vụ án mạng ở bãi sông Hồng năm ngoái – lúc này đang run cầm cập, hai tay nắm chặt chùm chìa khóa sắt rỉ sét như thể đang cầm một quả lựu đạn sắp nổ.

“Nghĩa, tôi không đùa với cậu.” Tôi hạ thấp giọng, cố gắng giữ cho tông giọng của mình không bị tiếng sấm sét ngoài kia nuốt chửng: “Vụ án này liên quan đến mạng người, không chỉ một mà là rất nhiều người. Cả cái mạng của tôi hiện tại cũng đang treo trên sợi tóc đây. Cậu chỉ cần mở cửa, cho tôi mười lăm phút. Mọi trách nhiệm sau đó, một mình Vũ Thúy Quỳnh tôi gánh hết.”

Nghĩa nhìn xuống cánh tay phải của tôi – nơi đang được quấn chặt bởi những vòng chỉ ngũ sắc sặc sỡ, ẩn hiện dưới lớp tay áo khoác da rách bươm. Gương mặt cậu ta thoáng qua một sự kinh hoàng xen lẫn ái ngại. Cậu ta thừa biết tôi là một kẻ duy vật cứng đầu, một nữ cảnh sát hình sự xuất sắc chưa bao giờ biết cúi đầu trước bất kỳ thế lực nào. Nhưng giờ đây, nhìn tôi tơi tả, sắc mặt tái nhợt vì lạnh và kiệt sức, lại còn dùng đến thứ “bùa chú” kỳ dị này, Nghĩa biết tình hình đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của những quy chuẩn thông thường.

“Chị… chị thực sự tin vào những thứ ảo ma này sao?” Nghĩa nuốt nước bọt cái ực, giọng run run: “Đại úy Phong đã chết… người ta nói anh ấy bị tai nạn ở bãi chuối, nhưng tôi nghe mấy người ở tổ pháp y xầm xì… cái xác của anh ấy…”

“Đừng hỏi nữa.” Tôi cắt ngang lời cậu ta, ánh mắt sắc lẹm như dao cạo khiến gã đàn em lập tức im bặt: “Mở cửa đi. Thời gian của chúng ta không còn nhiều đâu.”

Nghĩa thở hắt ra một hơi đầy bất lực. Cậu ta lạch cạch tra chiếc chìa khóa đồng cổ lỗ sĩ vào ổ khóa phòng lưu trữ mật. Tiếng “cạch” khô khốc vang lên giữa tiếng sấm rền vang ngoài trời như một tín hiệu mở ra cánh cửa dẫn vào bóng tối của quá khứ.

“Mười lăm phút thôi đấy nhé chị Quỳnh. Tôi ra ngoài sảnh gác, có biến gì tôi sẽ ho khan ba tiếng.” Nghĩa nói nhanh rồi quay lưng đi thẳng vào bóng tối của hành lang, bước chân vội vã như muốn trốn chạy khỏi bầu không khí u ám đang bao trùm lấy khu vực này.

Tôi đẩy nhẹ cánh cửa gỗ nặng nề, bước chân không phát ra một tiếng động nhỏ nào tiến vào bên trong phòng lưu trữ.

Bầu không khí bên trong phòng ngột ngạt đến mức khiến lồng ngực tôi thắt lại. Đó là một sự tổng hòa kinh điển giữa mùi giấy dó ẩm mốc mười mấy năm trời, mùi mực in rách nát, bụi bặm bám dày trên các kệ sắt rỉ sét, và đâu đó… thoang thoảng một thứ mùi tanh tao, lạnh lẽo mà tôi đã bắt đầu quen thuộc từ khi dính líu đến Trần Sinh.

Mùi tử khí.

Tôi tự giễu bản thân một tiếng trong lòng. Đúng là gần mực thì đen, gần kẻ gom xác thì mũi tự động thính hơn chó nghiệp vụ. Nếu là một tháng trước, có ai bảo một nữ cảnh sát hình sự xuất sắc tốt nghiệp thủ khoa như tôi lại phải lén lút đột nhập kho hồ sơ mật trong đêm bão, tay cầm đèn pin cá nhân, đầu óc thì liên tục nhảy số về các khái niệm “oán khí”, “vía”, “ngải độc”, tôi chắc chắn sẽ tống kẻ đó vào trại phục hồi nhân phẩm vì tội truyền bá mê tín dị đoan. Nhưng giờ thì sao? Sợi chỉ ngũ sắc trên cánh tay phải của tôi đang là thứ duy nhất ngăn cản những đường gân đen ngòm của Ấn Ký Đoạt Hồn bò lên đến tim.

“Anh Sinh ơi là anh Sinh, gánh cái quả tạ này của anh đúng là mệt đến thở không ra hơi mà.” Tôi lầm bầm tự giễu, tay bật chiếc đèn pin cá nhân loại nhỏ, bóp chặt chùm sáng vàng nhạt chỉ vừa đủ chiếu sáng một khoảng nhỏ trước mặt để tránh gây chú ý cho bảo vệ trực đêm phía dưới sân.

Những chiếc kệ sắt xám xịt đứng sừng sững trong bóng tối như những tấm bia mộ không tên trong một nghĩa trang giấy tờ khổng lồ. Tôi lướt nhanh qua các dãy kệ, ngón tay lướt trên những nhãn mác đề năm: 1990, 1985, 1980…

Cánh tay phải của tôi bỗng nhiên nhói lên một nhịp đau buốt thấu xương. Cảm giác lạnh ngắt từ khuỷu tay truyền thẳng vào đại não khiến tôi suýt nữa thì đánh rơi chiếc đèn pin. Tôi cắn chặt môi đến bật máu để không phát ra tiếng rên rỉ. Sợi chỉ ngũ sắc bỗng phát ra một luồng sáng đỏ mờ nhạt rồi dịu đi. Tôi biết, đây là phản ứng tự nhiên của cơ thể khi tiếp cận gần với nguồn oán khí hoặc những tài liệu bị tà thuật ám thị.

Tôi dừng chân trước dãy kệ sắt cuối cùng, nơi chứa những hộp hồ sơ bám đầy mạng nhện của thập niên 1970.

“Vụ án mất tích – Sông Hồng – 1975.”

Tôi lầm nhẩm danh mục trong đầu, hai mắt căng ra tìm kiếm dưới ánh đèn pin hiu hắt. Đây rồi. Một hộp hồ sơ bằng tôn rỉ sét, nằm khuất sau những tệp tài liệu về các vụ trộm cắp tài sản thời bao cấp. Tôi dùng bàn tay trái không bị thương kéo chiếc hộp ra. Tiếng kim loại nghiến vào nhau “két… két” nghe chói tai đến rợn người giữa không gian tĩnh mịch.

Bên trong hộp tôn chỉ có một tập hồ sơ duy nhất. Nó mỏng dính, bìa giấy dó đã mủn ra như cám, loang lổ những vết ố vàng của thời gian và nước mưa ngấm qua trần nhà dột nát suốt hai mươi năm. Góc trên cùng bên trái của bìa hồ sơ có đóng một con dấu đỏ chót: “TỐI MẬT”.

Nhưng điều đáng kinh ngạc là con dấu “TỐI MẬT” đó đã bị một vệt mực đen ngòm gạch chéo một cách thô bạo. Ngay bên cạnh, ai đó đã dùng bút mực viết đè lên dòng chữ nguệch ngoạc, nét chữ run rẩy nhưng đầy dứt khoát: “Lưu kho vĩnh viễn – Không thụ lý”.

Tim tôi đập nhanh hơn một nhịp. “Không thụ lý”? Một vụ mất tích của công nhân nhà máy dệt giữa thủ đô vào năm 1975, tại sao lại bị đóng hồ sơ một cách vội vã và thô bạo đến thế?

Tôi cẩn thận lật mở trang đầu tiên.

Tấm ảnh chân dung đen trắng cỡ 4×6 của nạn nhân được ghim ở góc phải lập tức đập vào mắt tôi. Dù tấm ảnh đã bị ố nhòe, một góc bị nấm mốc gặm nhấm, nhưng tôi vẫn không khỏi bàng hoàng.

Nguyễn Thị Lượm.

Cô gái trong ảnh khoảng hai mươi tuổi. Gương mặt trái xoan thanh tú, sống mũi cao thẳng và đặc biệt là đôi mắt. Đó là một đôi mắt to, tròn nhưng u uẩn, chất chứa một nỗi buồn thiên cổ sâu thẳm như lòng sông đêm bão. Đôi mắt ấy… hệt như đôi mắt mà anh Sinh đã mô tả khi đối mặt với vong hồn Quỷ Oán dưới đáy sông Hồng ở dốc Quỷ Khóc. Một cảm giác lạnh lẽo chạy dọc sống lưng tôi, khiến những sợi lông tơ trên gáy dựng ngược lên.

Tôi đọc nhanh phần lý lịch trích ngang: “Nguyễn Thị Lượm, sinh năm 1955, quê quán Nam Định, công nhân phân xưởng sợi – Nhà máy Dệt 8-3. Mất tích đêm rằm tháng bảy năm 1975 tại khu vực dốc Quỷ Khóc, xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì (nay thuộc ngoại ô Hà Nội).”

Tôi lật sang trang tiếp theo: Biên bản điều tra ban đầu.

Trang giấy này khiến tôi phải nhíu mày kinh ngạc. Toàn bộ phần ghi chép lời khai của các nhân chứng – những công nhân cùng ca trực với Lượm đêm đó, những người dân chài lưới quanh dốc Quỷ Khóc – đều bị bôi đen hoàn toàn bằng mực tàu dày đặc. Những vệt mực đen ngòm, thô ráp đè chặt lên từng con chữ như một nỗ lực tuyệt vọng nhằm xóa sạch mọi dấu vết của sự thật. Tôi cố gắng đưa tờ giấy lên sát ánh đèn pin, hy vọng ánh sáng có thể xuyên qua lớp mực tàu để lộ ra vài nét chữ thanh mảnh bên dưới, nhưng vô ích. Kẻ làm việc này đã thực hiện nó một cách cực kỳ tỉ mỉ và tàn nhẫn.

Tuy nhiên, ông trời dường như vẫn chừa lại một kẽ hở cho công lý.

Khi tôi lật đến trang cuối cùng của tập hồ sơ – nơi đáng lẽ phải là quyết định đình chỉ điều tra – ngón tay tôi chạm phải một nếp gấp lạ dưới đáy tập tài liệu. Đó là một tờ giấy dó mỏng, nhỏ bằng bàn tay, được ghim lén lút dưới lớp bìa lót bằng một chiếc ghim sắt đã rỉ sét đến mức hóa đen.

Tôi khẽ gỡ chiếc ghim, mở tờ giấy ra.

Đó là một tờ đơn tố cáo viết tay từ năm 1976. Nét chữ nguệch ngoạc, sai lỗi chính tả khá nhiều, rõ ràng là của một người lao động nghèo ít chữ nghĩa. Người viết đơn tự xưng là mẹ ruột của Nguyễn Thị Lượm.

“Kính gửi các đồng chí công an…”

Bức thư đẫm nước mắt của người mẹ mất con hiện ra trước mắt tôi qua từng dòng chữ nhạt màu mực cửu long:

“…Con gái tôi là Nguyễn Thị Lượm, nó ngoan ngoãn, không bao giờ tự ý bỏ đi đâu. Đêm rằm tháng bảy, nó hẹn gặp đồng chí Trịnh Tiến Nam – cán bộ thuộc Ủy ban Vật tư thành phố – để nói chuyện về cái thai trong bụng. Nó nói đồng chí Nam hứa sẽ làm đám cưới để hợp thức hóa đứa bé trước khi bụng nó to ra. Nhưng từ đêm đó, con tôi không về nữa. Tôi đến tìm đồng chí Nam thì bị người ta đuổi đánh, nói tôi vu khống cán bộ, bôi nhọ danh dự của người có công. Tôi biết con tôi đã bị hại… Xin các đồng chí minh oan cho vong linh con tôi và đứa cháu ngoại chưa kịp chào đời…”

Tôi siết chặt tờ giấy, lồng ngực phập phồng vì một cơn phẫn nộ tột cùng.

Trịnh Tiến Nam!

Cái tên này như một tia sét đánh thẳng vào đại não tôi. Trịnh Tiến Nam của năm 1975 chỉ là một cán bộ vật tư trẻ tuổi, nhưng Trịnh Tiến Nam của năm 1995… chính là vị chính khách lừng lẫy, người đứng sau hàng loạt siêu dự án bất động sản đang làm thay đổi bộ mặt đô thị Hà Nội, bao gồm cả dự án khách sạn năm sao Nam Đô quanh khu vực hồ Giảng Võ!

Tôi lập tức lật mở tệp tài liệu tra cứu lý lịch cán bộ mà tôi đã bí mật chuẩn bị từ trước trong túi áo khoác. Hai luồng thông tin của hai mươi năm trước và hiện tại va chạm chan chát vào nhau, vẽ nên một bức tranh chân dung của quỷ dữ nhân gian.

Sau năm 1975 – thời điểm Nguyễn Thị Lượm mất tích – lộ trình thăng tiến của Trịnh Tiến Nam hanh thông đến mức phi lý, giống như gã được một bàn tay vô hình của số phận nâng đỡ, dọn sạch mọi chướng ngại vật trên con đường quyền lực. Gã liên tục nhảy vọt qua các vị trí béo bở, thâu tóm đất đai, tiền bạc cuồn cuộn đổ vào túi như nước sông mùa lũ. Người ta đồn rằng Nam có “vận mệnh đế vương”, đi đến đâu là tài lộc phát đến đó.

Nhưng sự thật tàn nhẫn đứng sau cái gọi là “vận mệnh đế vương” đó là gì?

Là một người đàn bà mang thai bị dìm xác xuống đáy sông Hồng bằng xích sắt đồng đen!

Là một đứa trẻ sơ sinh bị ép chết từ trong bụng mẹ, biến thành oán nhi chí độc để nuôi dưỡng ngải cầu tài!

Tôi nhớ lại oán cảnh mà anh Sinh đã thấy dưới hố sụt dốc Quỷ Khóc: Trịnh Tiến Nam đeo chiếc đồng hồ vàng Poljot của Liên Xô, lạnh lùng giẫm đạp lên bả vai người tình để đẩy cô xuống dòng nước xiết, đổi lấy hai mươi năm vinh hoa phú quý mười đời.

Sự giàu sang xây dựng trên xương máu và oán hận của người đàn bà yêu gã hết lòng. Đúng là một trò đùa tàn nhẫn của nhân gian!

Tuy nhiên, luật nhân quả tuy muộn nhưng chưa bao giờ bỏ sót một ai.

Tôi lật sang trang tài liệu y tế nội bộ gần nhất của Trịnh Tiến Nam, đề ngày 12 tháng 10 năm 1994. Đây là tài liệu mật của Ban Bảo vệ Sức khỏe Cán bộ Thành phố mà tôi phải dùng cả danh dự lẫn các mối quan hệ cũ của Trần Phong mới trích lục được:

“Bệnh nhân Trịnh Tiến Nam xuất hiện các triệu chứng của một căn bệnh lạ chưa từng có trong y văn. Da dẻ toàn thân tự động nứt nẻ, chảy ra một thứ dịch nhớp nháp màu đen bốc mùi tanh hôi như bùn đáy sông. Các khớp xương co quắp, móng tay mọc dài và cứng lại như vuốt thú. Về mặt tâm thần: Bệnh nhân hoảng loạn cực độ, liên tục gào thét về việc có người đàn bà mặc áo bà ba trắng đứng ở đầu giường đòi mạng, đòi lại con. Bệnh nhân có xu hướng thèm ăn thịt sống và tự dìm đầu vào bồn tắm nước lạnh để giảm bớt cơn đau buốt trong xương tủy. Hiện tại, để tránh gây hoang mang dư luận và bảo vệ hình ảnh tổ chức, bệnh nhân đã được chuyển sang khu điều trị biệt lập đặc biệt…”

“Khu điều trị biệt lập đặc biệt…” Tôi lầm nhầm đọc dòng chữ đó, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh lẽo.

Đó chính là phòng biệt giam số 4 của Bệnh viện Tâm thần Bạch Mai! Nơi mà anh Sinh đã dùng Dạ Bộ đột nhập và phát hiện ra Trịnh Tiến Nam đã biến đổi thành một quái thai nửa người nửa cá – một con quỷ nước thực thụ dưới sự khống chế của Lão Tám Hoài.

Mọi mắt xích của vụ án mạng kéo dài hai mươi năm qua đã hoàn toàn được nối liền một cách hoàn hảo và kinh hoàng.

Trịnh Tiến Nam đã bán linh hồn của Nguyễn Thị Lượm cho Lão Tám Hoài để đổi lấy quyền lực và tiền tài. Nhưng gã không ngờ rằng, tà thuật phong ấn bằng xích sắt đồng đen dưới lòng sông Hồng chỉ có thời hạn. Khi long mạch của dốc Quỷ Khóc cạn kiệt, khi oán khí của chị Lượm tích tụ đến mức cực hạn sau hai mươi năm nằm dưới đáy bùn sâu, tà thuật bắt đầu phản phệ.

Trịnh Tiến Nam bị biến thành quỷ nước, chịu đựng sự hành hạ đau đớn tột cùng từ thể xác đến linh hồn. Còn Lão Tám Hoài – gã thầy tà tàn độc kia – vẫn không muốn buông tha cho con bài tẩy này. Lão giam lỏng Nam trong phòng biệt giam số 4, dùng ngải độc khống chế gã để chuẩn bị biến gã và năm cái sọ người chết trùng thành những nhãn trận sống cho Thiên Linh Đại Trận vào đêm nguyệt thực sắp tới.

“Đúng là ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Kẻ bán rẻ lương tâm cuối cùng lại trở thành con chó săn bị giam cầm bởi chính kẻ đã ban cho mình sự giàu sang.” Tôi khẽ thở dài, tay nhanh chóng nhét tập hồ sơ cũ vào trong áo khoác da, khóa kéo chặt lại để bảo quản tài liệu.

Đột nhiên, một luồng âm khí lạnh ngắt như đá tảng ập đến từ phía sau lưng tôi.

“Xào xạc… xào xạc…”

Tiếng động cơ của chiếc máy thông gió cũ kỹ trong phòng lưu trữ bỗng nhiên ngừng hẳn. Không gian rơi vào một sự im lặng chết chóc, chỉ còn lại tiếng mưa bão gầm rú bên ngoài cửa sổ.

Cánh tay phải của tôi bùng lên một cơn đau dữ dội, đau đến mức tôi cảm giác như có hàng ngàn cây kim rỉ sét đang đâm thẳng vào mạch máu. Những sợi chỉ ngũ sắc quấn quanh tay tôi bỗng nhiên rung lên bần bật, chuyển sang màu đen sậm dưới lớp áo khoác da.

“Cộp… cộp… cộp…”

Tiếng bước chân nện xầm xập trên hành lang gỗ ngoài kia bỗng vang lên.

Nó không phải là tiếng bước chân của Nghĩa hay của bảo vệ trực ca. Tiếng bước chân ấy nặng nề, kéo lê trên sàn nhà một cách quái dị, kèm theo đó là một tiếng “xoẹt… xoẹt…” khô khốc, giống như có một vật gì đó bằng kim loại rỉ sét đang được kéo lê trên mặt đất.

Và kinh khủng nhất là mùi hương đang xộc vào phòng qua khe cửa.

Mùi tử khí tanh tưởi của xác chết ngâm tẩm hóa chất tà thuật, trộn lẫn với mùi dầu gió Con Ó nồng nặc đến mức khiến tôi buồn nôn.

Tôi lập tức tắt đèn pin, nín thở, lách người thật nhanh vào khoảng trống nhỏ hẹp giữa chiếc tủ sắt chứa hồ sơ năm 1970 và bức tường bê tông ẩm mốc phía sau. Toàn thân tôi dính chặt vào bức tường lạnh ngắt, tay trái nhanh chóng rút khẩu súng K54 dắt bên hông ra, ngón cái gạt chốt an toàn một cách nhẹ nhàng nhất có thể.

“Cạch…”

Cánh cửa phòng lưu trữ mật từ từ mở ra.

Dưới ánh chớp xanh lét rạch ngang bầu trời ngoài cửa sổ, tôi nhìn thấy một bóng người cao lớn bước vào phòng. Hắn mặc một chiếc áo mưa tiện lợi màu đen sũng nước, nước mưa từ gấu áo nhỏ xuống nền gạch “tõm… tõm…” nghe rõ mồn một.

Gã cầm một chiếc ô đen che nửa mặt, nhưng dưới ánh sáng lập lòe của sấm chớp, tôi vẫn nhìn rõ phần sau gáy của gã.

Một vết bớt hình đầu lâu màu đen sẫm, đang phập phồng như có sự sống, rỉ ra một thứ dịch nhớp nhúa bốc mùi hôi thối đặc trưng của xác phân hủy.

Kẻ cầm ô đen bí ẩn! Tay sai đắc lực của Lão Tám Hoài!

Hắn đứng yên ở giữa phòng lưu trữ, chiếc đầu từ từ quay ngoắt 180 độ ra phía sau một cách phi tự nhiên, các khớp xương cổ phát ra tiếng “rắc… rắc…” khô khốc. Hai con mắt của hắn vô hồn, dính đầy dịch vàng dã dượi, đang liên tục đảo quanh để dò tìm dương khí trong phòng.

Cánh tay phải của tôi đau buốt đến mức tôi phải dùng răng cắn chặt vào vạt áo khoác da để không phát ra tiếng động. Trán tôi vã ra một lớp mồ hôi lạnh ngắt. Sức mạnh của kẻ này quá khủng khiếp, luồng âm khí tỏa ra từ người hắn khiến không khí xung quanh tôi như đông cứng lại, bóp nghẹt lồng ngực tôi. Nếu hắn phát hiện ra tôi ở đây, với cánh tay phải đang bị phế nửa phần thế này, tôi chắc chắn không có cửa sống sót.

Kẻ cầm ô đen bắt đầu bước đi. Hắn đi dọc theo các dãy kệ sắt, chiếc ô đen trong tay khẽ lắc lư. Hắn đang tiến về phía dãy kệ sắt năm 1970 – nơi tôi đang ẩn nấp.

“Cộp… cộp… xoẹt…”

Khoảng cách giữa tôi và hắn chỉ còn ba dãy kệ.

Mùi dầu gió Con Ó và mùi tử khí nồng nặc đến mức mắt tôi bắt đầu cay xè, nước mắt chực trào ra. Tôi siết chặt báng súng K54, ngón trỏ đặt hờ lên cò súng. Tôi biết súng đạn thông thường khó lòng tiêu diệt được thứ quái thai này, nhưng nếu bị dồn vào đường cùng, tôi sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Đúng lúc này, chiếc bật lửa Zippo khắc hình Quan Công mà anh Sinh đưa cho tôi trước khi lặn xuống hồ Giảng Võ bỗng nhiên tỏa ra một luồng nhiệt lượng ấm áp lạ thường trong túi áo khoác da của tôi.

Luồng nhiệt lượng ấy nhẹ nhàng lan tỏa khắp cơ thể tôi, sưởi ấm lồng ngực và đặc biệt là xoa dịu cơn đau buốt trên cánh tay phải. Kỳ diệu hơn, luồng ấm áp từ chiếc Zippo Quan Công bọc quanh người tôi như một màng chắn vô hình, triệt tiêu hoàn toàn chút dương khí yếu ớt còn sót lại của tôi khỏi giác quan nhạy bén của kẻ xâm nhập.

Kẻ cầm ô đen bí ẩn bỗng nhiên khựng lại ngay trước dãy kệ sắt năm 1970.

Hắn đứng yên như một bức tượng đá gác cổng nghĩa trang suốt gần một phút đồng hồ. Chiếc đầu quái dị của hắn khẽ nghiêng sang một bên, hai con mắt dã dượi nhìn trừng trừng vào khoảng tối nơi tôi đang ẩn nấp.

Tim tôi như ngừng đập. Tôi nín thở hoàn toàn, ngón tay siết nhẹ cò súng.

Bỗng nhiên, từ phía hành lang ngoài kia vang lên tiếng ho khan ba tiếng của Nghĩa:

“Khụ… khụ… khụ…”

Đó là tín hiệu có biến!

Kẻ cầm ô đen khẽ giật mình. Hắn quay ngoắt người lại, bước chân vội vã lướt nhanh ra khỏi phòng lưu trữ mật như một bóng ma xám xịt tan biến vào sương mù đêm bão. Tiếng bước chân nặng nề và tiếng rỉ rả của nước mưa xa dần, rồi biến mất hẳn ở góc cầu thang.

“Phù…”

Tôi thở hắt ra một hơi dài, toàn thân như lả đi, khuỵu gối tựa lưng vào bức tường bê tông ẩm mốc. Chiếc bật lửa Zippo Quan Công trong túi áo vẫn tỏa ra hơi ấm dịu nhẹ, sưởi ấm bàn tay đang run rẩy của tôi.

“Anh Sinh… đúng là mạng tôi lớn mới gặp được anh và cái bật lửa này đấy.” Tôi lẩm bẩm, khẽ nở một nụ cười tự giễu đầy nhẹ nhõm.

Tôi nhanh chóng đứng dậy, nhét khẩu súng K54 vào thắt lưng, kiểm tra lại tập hồ sơ năm 1975 đã được bọc kín dưới lớp áo khoác da rồi lách người bước ra khỏi phòng lưu trữ.

Khi tôi bước ra đến sảnh gác, Nghĩa đang ngồi bệt dưới đất, mặt cắt không còn một giọt máu, hai tay ôm đầu run rẩy. Nhìn thấy tôi lành lặn bước ra, cậu ta như người chết đuối vớ được cọc, lập tức đứng bật dậy nói lắp bắp:

“Chị… chị Quỳnh… cái gã mặc áo mưa đen đó… hắn không phải là người! Hắn đi qua tôi mà tôi không hề nghe thấy tiếng thở… người hắn… thối hoắc như chuột chết…”

“Tôi biết rồi.” Tôi vỗ mạnh vào vai Nghĩa, cố gắng trấn an cậu ta: “Cậu làm tốt lắm. Giờ thì khóa cửa lại, coi như đêm nay không có chuyện gì xảy ra. Tôi phải đi ngay bây giờ.”

“Nhưng chị đi đâu giữa đêm bão bùng thế này?” Nghĩa lo lắng hỏi.

Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi những tia chớp vẫn đang xé toạc bầu trời đêm Hà Nội, hướng thẳng về phía ngoại ô – nơi có dốc Quỷ Khóc đang chờ đợi chúng tôi.

“Tôi đi đòi nợ.” Tôi lạnh lùng nói, ánh mắt ánh lên một vẻ kiên định chưa từng có: “Đòi món nợ máu hai mươi năm trước cho chị Lượm, và cả món nợ của gã phản đồ Trần Phong.”

Tôi quay lưng, bước nhanh xuống cầu thang tối tăm của Sở Cảnh sát.

Dưới tầng trệt, chiếc xe tải IFA chở xác cũ kỹ của Phát béo vẫn đang đỗ lặng lẽ dưới tán cây đề cổ thụ, đèn pha mờ nhạt xuyên qua màn sương mù dày đặc. Tôi biết, anh Sinh và Phát béo đang chờ tôi. Chúng tôi đã có đủ bằng chứng dương gian, đã hiểu rõ chân tướng của kẻ thủ ác quyền thế Trịnh Tiến Nam.

Giờ là lúc, luật âm phần và luật dương gian sẽ cùng nhau thực thi công lý tại dốc Quỷ Khóc!

Tùy chỉnh hiển thị

18px
1.8