Sổ Tay Bắt Ma Của Kẻ Gom Xác
Chương 52: Chung cư cũ ám mùi nhang bài

Cập nhật lúc: 2026-07-02 16:48:06 | Lượt xem: 2

Tôi nhớ năm mười hai tuổi, có một lần trời mưa tầm tã, sấm chớp giật liên hồi ngoài hiên nghĩa trang. Khi đó, tôi lén lấy trộm một phong nhang bài của ông nội để đem đốt quanh chuồng gà, mục đích là để xua bớt cái mùi hôi hám ẩm ướt của đất cát ngày mưa. Kết quả là tôi bị ông nội lôi ra giữa sân, bắt quỳ trên đống vỏ bưởi khô suốt hai tiếng đồng hồ. Ông vừa gõ tẩu thuốc lên đầu tôi rôm rốp, vừa mắng bằng cái giọng khàn khàn đặc trưng của dân phu liệm già đời: *”Thằng ranh con, nhang bài là thứ để dẫn lối oán khí, để tẩm liệm cho những kẻ chết trùng, chết oan chưa kịp nhắm mắt. Mày đem đốt bừa bãi thế này, không sợ dẫn cô hồn vào nhà bóp cổ à? Nhớ kỹ cho tao, trên đời này đáng sợ nhất không phải là ma quỷ hiện hình đòi mạng, mà là mùi nhang bài thoang thoảng ở những nơi không nên có. Đó là dấu hiệu của sự im lặng, của những kẻ đồng lõa che giấu tội ác dưới bóng tối âm phần.”*

Lúc đó, tôi vừa xoa đầu vừa lầu bầu nghĩ ông nội vẽ chuyện để tiết kiệm nhang. Nhưng giờ đây, khi đang ngồi trên chiếc xe tải IFA rách nát của Phát béo, nhìn qua kính chắn gió nhòe nhoẹt nước mưa, tôi mới thấm thía từng lời răn dạy năm xưa của ông.

“Kééééét!”

Tiếng lốp xe nghiến mạnh xuống mặt đường nhựa sũng nước phát ra một âm thanh chói tai. Toàn bộ thân xe tải IFA rung lên bần bật như một gã nghiện lên cơn co giật. Tôi suýt chút nữa là đem cả khuôn mặt đẹp trai của mình dán chặt vào bảng táp-lô bám đầy bụi đất.

“Cái lề gì thốn? Mày lái xe hay đang tập bay đấy Phát béo?” Tôi ôm lấy bả vai trái vừa mới lành lặn nhờ luồng dương khí từ cuốn Sổ Tay Da Bò, trợn mắt chửi gã bạn thân đang mồ hôi nhễ nhại bên vô-lăng.

Phát béo mặt cắt không còn một giọt máu, hai tay bấu chặt vào bánh lái như thể đó là phao cứu sinh duy nhất của đời gã. Gã nuốt nước bọt cái ực, chỉ tay qua lớp kính chắn gió đang bị những vệt gạt mưa quét qua quét lại một cách vô vọng:

“Sinh… Sinh ơi, không phải tại tao! Nhìn… nhìn đằng trước kìa!”

Tôi và Vũ Thúy Quỳnh đồng loạt rướn người nhìn về phía trước. Dưới ánh đèn pha vàng vọt, mờ căm của chiếc IFA, một cây đa cổ thụ đường kính phải hai người ôm đang nằm chình ình chắn ngang con đê sông Hồng. Thân cây bị sét đánh toác làm đôi, than đen vẫn còn nghi ngút khói dưới làn mưa xối xả. Những cành lá xum xuê, rậm rạp giăng ra như những cánh tay quỷ khổng lồ chặn đứng lối đi duy nhất dẫn thẳng đến dốc Quỷ Khóc.

“Mẹ kiếp, đúng là tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Đang lúc nước sôi lửa bỏng thế này mà lại gặp báo thủ thiên nhiên.” Tôi tặc lưỡi, rút bao thuốc ra định châm một điếu nhưng sực nhớ có mặt đồng chí cảnh sát bên cạnh nên lại thôi.

Quỳnh vội vàng giở tấm bản đồ địa chính cũ kỹ từ trong ngực áo khoác da ra, dùng chiếc đèn pin nhỏ rọi vào để tìm lối đi khác. Gương mặt thanh tú của cô lúc này lộ rõ vẻ lo lắng, cánh tay phải quấn chặt chỉ ngũ sắc thỉnh thoảng lại khẽ co rút dưới tác động của Ấn Ký Đoạt Hồn. Cô nhíu mày nói:

“Đường đê bị chặn hoàn toàn rồi. Nếu chúng ta quay lại đi đường quốc lộ thì sẽ mất ít nhất hai tiếng đồng hồ. Lúc đó nguyệt thực đã bắt đầu, dốc Quỷ Khóc sẽ bị Lão Tám Hoài hoàn toàn phong tỏa, chúng ta không thể tiếp cận được nhãn trận thứ mười đâu.”

Phát béo nghe đến hai chữ “nguyệt thực” thì bả vai run lên bần bật, gã lí nhí đề xuất:

“Hay là… hay là mình đi vòng qua khu tập thể cũ Nguyễn Công Trứ đi? Tao biết một lối tắt xuyên qua bãi rác và khu nhà kho của xí nghiệp dệt cũ, tuy hơi lầy lội và tối tăm một chút nhưng xe tải vẫn bò qua được. Có điều…” Gã ngập ngừng, mắt đảo liên tục: “Khu đó nổi tiếng là ám khí nặng nề, người dân chuyển đi gần hết rồi.”

“Đi! Còn đường nào nữa đâu mà kén cá chọn canh.” Tôi đập mạnh vào vai Phát béo, ra lệnh.

Chiếc xe tải IFA lùi lại một đoạn rồi rẽ ngoắt vào một con đường đất tối tăm, lầy lội bên hông đê. Ngay khi bốn bánh xe nghiến lên lớp bùn nhão của lối vào khu tập thể Nguyễn Công Trứ, tôi đột ngột rùng mình một cái.

Khứu Giác Oán Khí vừa mới đột phá của tôi bỗng nhiên hoạt động một cách cực đoan. Một mùi hương vô cùng mâu thuẫn, kỳ quái xộc thẳng vào mũi tôi qua khe hở của cabin xe. Đó là mùi ngọt nồng, ấm áp của nhang bài – thứ nhang đặc trưng của người Hà Nội xưa mỗi dịp Tết đến xuân về. Nhưng ngay lập tức, cái mùi ngọt ngào ấy bị bóp nghẹt bởi một mùi tử khí khô khốc, bụi bặm và tanh tưởi của một xác chết đã bị mất nước hoàn toàn, hóa thành oán thi khô.

“Mùi nhang bài… nồng nặc quá.” Tôi lẩm bẩm, tay vô thức siết chặt chiếc Thước Tầm Long bằng đồng dắt bên hông.

“Mày cũng ngửi thấy hả Sinh?” Phát béo run giọng, răng đánh vào nhau cầm cập. “Tao… tao tưởng mũi tao bị nghẹt cơ chứ. Đêm mưa bão thế này, ai rảnh háng mà đi đốt nhang bài ngoài đường?”

Quỳnh lúc này khẽ rên rỉ một tiếng nhỏ. Cô ôm lấy bả vai phải, các đường gân đen dưới lớp da tái nhợt bỗng nhiên bò trườn dữ dội như những con giun đất dưới cơn mưa rào. Chỉ ngũ sắc quấn quanh cổ tay cô phát ra những tiếng “pực pực” chịu lực cực hạn. Cô thở dốc, chỉ tay về phía một dãy nhà năm tầng xám xịt, lở loét nằm im lìm trong bóng tối:

“Anh Sinh… cánh tay tôi… nó đang phản ứng rất mạnh với hướng kia. Block C… căn hộ ở trên cao…”

Tôi nhìn theo hướng tay Quỳnh chỉ. Block C của khu tập thể Nguyễn Công Trứ hiện ra như một con quái vật bê tông khổng lồ thời bao cấp đang nằm rạp dưới mưa bão. Những mảng tường vàng úa bị bong tróc từng mảng lớn, lộ ra lớp gạch đỏ bên trong như những vết thương rỉ máu. Hầu hết các ô cửa sổ đều tối om, không một ánh đèn, chỉ có vài tấm tôn rỉ sét trên mái thượng bị gió thổi đập vào nhau chan chát, tạo nên những âm thanh ghê rợn như tiếng gõ cửa gọi hồn.

“Xuống xe.” Tôi lạnh lùng nói, mở cửa cabin bước thẳng xuống vũng bùn nhão.

“Ôi cái cuộc đời tôi! Lại phải đi gom xác à? Sinh ơi, tao xin mày, chúng ta đang đi phá trận mà, có cần phải làm thêm ca ngoài giờ thế này không?” Phát béo mếu máo gào lên nhưng vẫn lật đật vớ lấy chiếc chày gỗ dâu tằm và túi muối tỏi, nhảy xuống bám chặt lấy gấu áo tôi.

Quỳnh cũng bước xuống, tay trái cô siết chặt khẩu súng K54 dắt sau lưng, ánh mắt kiên định bám sát phía sau tôi. Ba chúng tôi che chung một chiếc ô đen rách nát, bước vào sảnh hành lang tối tăm của Block C.

Không khí bên trong tòa nhà ẩm ướt và lạnh lẽo đến mức thở ra cả khói. Mùi nước cống rãnh, mùi ẩm mốc của tường vôi lâu năm quyện với mùi nhang bài tạo nên một thứ hỗn hợp mùi hương làm đại não tôi đau nhức như có hàng vạn cây kim châm vào. Những chiếc bếp than tổ ong của người dân để dọc hành lang đã bị bão dập tắt từ lâu, nước mưa từ trần nhà rột xuống rỉ ra những vệt nước đen sì, chảy ngoằn ngoèo trên nền gạch hoa cũ kỹ như những con rắn đen.

Chúng tôi đi lên cầu thang. Tiếng bước chân của ba người vang vọng trong không gian tĩnh mịch, xen lẫn tiếng gió rít qua các khe cửa sắt rỉ sét tạo nên một bản nhạc đám ma rợn tóc gáy.

Khi bước lên đến tầng 4, mùi nhang bài đã trở nên đậm đặc đến mức mắt tôi bắt đầu cay xè. Khói xám đục, lờ lững trôi ra từ khe cửa gỗ mục nát của căn hộ nằm cuối dãy hành lang.

“Phòng 404.” Quỳnh soi đèn pin lên tấm biển số nhà bằng nhôm đã rỉ sét, giọng cô run lên nhưng vẫn giữ được sự bình tĩnh của một cảnh sát hình sự. Cô nhanh chóng thọc tay vào ngực áo khoác da, rút ra tập hồ sơ năm 1975 mà cô vừa liều mạng lấy được từ phòng lưu trữ mật của Sở Cảnh sát. Cô lật nhanh vài trang giấy dó đã ố vàng, đọc nhỏ:

*”Bà Nguyễn Thị Ty, sinh năm 1925. Nữ hộ sinh ca trực đêm ngày rằm tháng Bảy năm Ất Mão tại nhà bảo sanh huyện. Là người trực tiếp đỡ đẻ cho sản phụ Nguyễn Thị Lượm. Sau vụ án Lượm mất tích, bà Ty đột ngột xin thôi việc và biến mất khỏi địa phương. Địa chỉ đăng ký hộ khẩu cuối cùng được tìm thấy: Phòng 404, Block C, khu tập thể Nguyễn Công Trứ…”*

Tôi nghe đến đây thì da đầu tê dại đi một mảng. Nhân quả! Đúng là nhân quả tuần hoàn, không chệch một ly. Bà mụ Ty này chính là nhân chứng sống duy nhất biết được chuyện gì đã xảy ra với đứa con của chị Lượm đêm hôm đó. Việc Lão Tám Hoài dùng tà thuật che giấu nơi này suốt hai mươi năm qua không phải là ngẫu nhiên. Lão muốn giam cầm linh hồn bà ta để bịt đầu mối vĩnh viễn!

“Sinh… nhìn kìa…” Phát béo lắp bắp, chỉ tay vào khe cửa phòng 404.

Khói nhang bài luồn qua khe cửa không phải trôi thẳng lên trời mà tụ lại thành hình dạng những sợi tơ mỏng manh, quấn quýt lấy tay nắm cửa bằng đồng như muốn níu kéo người sống bước vào.

Tôi không thèm chần chừ, rút chiếc Thước Tầm Long bằng đồng ra, vận chuyển một luồng linh lực Thủy Vía vào đầu thước rồi bẩy mạnh một cái.

“Rắc!”

Chiếc chốt cửa gỗ mục nát gãy đôi dễ dàng như một miếng bánh quy. Cửa phòng mở toang, một luồng khí lạnh thấu xương mang theo bụi bặm và mùi nhang nồng nặc ập thẳng vào mặt ba chúng tôi. Luồng khí lạnh này buốt đến mức khiến Phát béo rùng mình một cái, suýt nữa thì đánh rơi cả hũ muối tỏi xuống đất.

Tôi nâng cao chiếc đèn pin, quét một vòng quanh căn phòng 404.

Căn phòng rộng chưa đầy hai mươi mét vuông, đồ đạc trống trơn, bám đầy một lớp bụi dày màu xám tro. Trên các bức tường vôi lở loét treo đầy những bức tranh vẽ phong cảnh hồ Gươm, hồ Tây cũ kỹ từ những thập niên trước nhưng tất cả đều bị bôi đen bằng những vệt mực tàu loang lổ.

Và ở ngay chính giữa căn phòng, trên một chiếc phản gỗ lim đen bóng, có một cái xác đang nằm bất động.

Đó là xác của một cụ già. Thân hình cụ gầy guộc, da thịt teo tóp, xám xịt bám chặt vào khung xương như một xác ướp Ai Cập phiên bản bao cấp. Hai mắt cụ nhắm nghiền, môi mím chặt, hai tay khoanh trước ngực trong tư thế khâm liệm tiêu chuẩn. Xung quanh phản gỗ là hàng chục bát hương đất nung chứa đầy tàn nhang bài đã cháy hết từ lâu. Thế nhưng, kỳ lạ là khói hương u linh màu xám đục vẫn cứ lờ lững bay quanh cái xác khô ấy, tạo thành một màng sương mờ ảo không chịu tan biến.

“Xác… xác khô… Cụ bà này chết bao lâu rồi hả anh Sinh?” Quỳnh tiến lại gần một bước, nheo mắt hỏi.

“Nhìn lớp da teo và mùi tử khí khô này thì ít nhất cũng phải chết được nửa năm rồi.” Tôi nhàn nhạt đáp, bước lại gần phản gỗ. “Nhưng kỳ lạ ở chỗ, một cái xác chết khô trong căn hộ chung cư cũ thế này mà hàng xóm không ngửi thấy mùi hôi thối để báo cảnh sát sao?”

“Có thể là do mùi nhang bài này đã che giấu hoàn toàn mùi tử khí.” Quỳnh suy luận, ánh mắt cô dừng lại trên gương mặt của cái xác. “Hoặc là… có một thế lực nào đó không muốn người ngoài phát hiện ra cái chết của bà ta.”

Đúng lúc này, một âm thanh rợn tóc gáy đột ngột vang lên phá tan bầu không khí im lặng của căn phòng.

“Oa… oa… oa…”

Tiếng khóc của trẻ sơ sinh! Âm thanh lanh lảnh, u uất và đầy oán hận vang lên từ góc phòng, dội vào những bức tường bê tông ẩm mốc tạo nên những tiếng vang vọng kèn kẹt.

“Mẹ ơi! Ma… ma khóc kìa Sinh ơi!” Phát béo hét lên một tiếng thất thanh, nhảy dựng lên như một chú gấu xiếc bị chích điện, gã lao thẳng đến ôm chặt lấy cánh tay trái của tôi, mặt mếu máo như sắp khóc đến nơi. “Tao đã bảo rồi mà! Đêm hôm khuya khoắt không lo đi bắt ma to, lại chui vào đây nghe nhạc đám ma thế này!”

Quỳnh nhanh chóng rút súng K54 ra, hai tay cầm súng hướng về phía góc phòng, nơi đặt một chiếc tủ chè khảm xà cừ cũ kỹ bám đầy mạng nhện. Tiếng khóc trẻ con phát ra chính xác từ bên trong chiếc tủ đó.

“Anh Sinh… có phải là vong nhi không?” Cô hỏi, giọng nói tuy có chút run rẩy nhưng ánh mắt vẫn cực kỳ sắc bén.

Tôi không trả lời cô ngay. Tôi vận chuyển linh lực Thủy Vía xuống đôi bàn chân, kích hoạt năng lực “Dạ Bộ” vừa mới nhận được từ Sổ Tay Da Bò. Cơ thể tôi nhẹ bẫng như một làn khói, lướt đi trên nền gạch đầy bụi mà không hề phát ra bất kỳ một tiếng động nào, dù là nhỏ nhất. Phát béo đứng bên cạnh nhìn thấy tôi bỗng nhiên “biến mất” rồi xuất hiện ở góc phòng thì trợn tròn mắt, mồm há hốc ra kinh ngạc.

Tôi đứng trước chiếc tủ chè khảm xà cừ. Tiếng khóc “Oa… oa…” bên trong càng lúc càng dồn dập, như thể đứa trẻ đang bị bóp nghẹt cổ họng.

Tôi đưa chiếc Thước Tầm Long bằng đồng lên, gõ nhẹ ba cái vào cánh cửa tủ gỗ:

“Cộc! Cộc! Cộc!”

“Hồn về cõi âm, xác nằm cõi đất. Đêm tối thanh vắng, cớ sao khóc than?” Tôi trầm giọng đọc thần chú định hồn.

“Cạch!”

Cánh cửa tủ chè tự động mở toang ra. Luồng ánh sáng từ đèn pin của Quỳnh rọi thẳng vào bên trong.

Hoàn toàn không có một đứa trẻ sơ sinh nào cả.

Nằm chình ình giữa ngăn tủ trống rỗng là một con búp bê đất nung màu đỏ xám dị dạng, thô kệch. Con búp bê được quấn chặt bằng một mảnh tã lót vải lanh đã ố vàng, mục nát từ năm 1975. Đáng sợ nhất là trên đỉnh đầu con búp bê đất nung bị đóng ngập một cây đinh đồng hoen rỉ màu xanh, xung quanh quấn đầy những sợi tóc máu đen ngòm, nhớp nhúa của trẻ sơ sinh.

“Đây… đây là cái quái gì thế này?” Phát béo tò mò rướn cổ nhìn vào rồi lập tức thụt đầu lại, mặt tái mét.

“Anh Oán Trấn Hồn.” Tôi nghiến răng, luồng dương khí trong người sôi lên sùng sục khi nhận ra thủ đoạn tàn độc của kẻ thù. “Lão Tám Hoài… cái lão già khốn nạn này! Lão đã dùng tóc máu của cu Bảo – đứa con tội nghiệp của chị Lượm – để luyện thành con búp bê đất nung này. Lão đóng đinh đồng khóa hồn đứa trẻ vào đây, bắt vong hồn nó ngày đêm khóc đòi mẹ ngay bên tai bà mụ Ty. Bà Ty bị tiếng khóc hành hạ tinh thần suốt hai mươi năm, hóa điên hóa dại rồi chết khô trên phản gỗ này mà không thể siêu thoát.”

“Tại sao lão lại làm vậy?” Quỳnh phẫn nộ hỏi, bàn tay cầm súng siết chặt đến mức nổi cả gân xanh.

“Để bịt miệng.” Tôi giải thích, mắt âm dương nhìn thấy một làn khói xám từ con búp bê đất nung đang liên kết chặt chẽ với cái xác khô trên phản gỗ. “Bà Ty là người đỡ đẻ, bà biết đứa trẻ năm đó chưa chết mà bị Trịnh Tiến Nam mang đi hiến tế. Lão Tám Hoài dùng tà thuật này để yểm khẩu bà ta. Dù chết đi, hồn phách bà ta cũng bị tiếng khóc của đứa trẻ giam cầm tại căn phòng 404 này, mãi mãi làm kẻ đồng lõa câm lặng dưới âm phần.”

Ngay khi lời tôi vừa dứt, một cái bóng xám xịt bỗng nhiên ngưng tụ lại ngay bên cạnh chiếc phản gỗ.

Đó là hương hồn của bà mụ Ty. Bóng hình cụ già hiện lên mờ ảo, hai tay ôm chặt lấy đầu, gương mặt vặn vẹo đau đớn tột cùng. Cụ há miệng như muốn gào khóc, muốn kêu oan với chúng tôi, nhưng từ trong khoang miệng trống rỗng của cụ không hề phát ra một âm thanh nào. Phần lưỡi tâm linh của cụ đã bị những sợi chỉ đen xì – tà thuật yểm khẩu của Lão Tám Hoài – khâu chặt lại.

“Cứu… cứu…” Những vệt khói đen rỉ ra từ mắt cụ, cụ quỳ sụp xuống đất, hướng về phía tôi mà dập đầu liên tục.

“Sinh! Giúp cụ đi mày! Nhìn tội nghiệp quá!” Phát béo lần đầu tiên không sợ hãi tháo chạy, gã hít một hơi thật sâu, cầm chày dâu tằm đứng chắn trước cửa phòng, mắt cảnh giác nhìn ra hành lang tối tăm: “Để tao canh cửa cho! Đồng chí cảnh sát, cô cầm bật lửa Zippo hộ mệnh của Sinh chuẩn bị sẵn đi, nhỡ có âm binh rơm của lão Tám Hoài ập đến thì đốt bùa sắc lệnh ngay!”

“Được!” Quỳnh kiên định gật đầu, cô cất súng K54, nhận lấy chiếc bật lửa Zippo Quan Công từ tay tôi, đứng gác bên cạnh Phát béo. Sự phối hợp ăn ý của hai người họ khiến tôi khẽ mỉm cười tự giễu trong lòng. Đúng là hoạn nạn mới gặp chân tình, gã bạn thân nhát chết và cô cảnh sát vô thần giờ đây đã trở thành những đồng đội sinh tử đáng tin cậy nhất của tôi.

“Chị Ty, nằm yên đó. Tôi là hậu duệ dòng họ Trần, hôm nay tôi đến đây là để đòi lại công lý cho chị và mẹ con chị Lượm.”

Tôi trầm giọng nói, bước lại gần phản gỗ, rút từ trong túi áo khoác ra một chiếc kim đồng dài và cuộn chỉ ngũ sắc chuyên dụng khâu xác. Đây là nghi thức khâu xác tích đức của kẻ gom xác chúng tôi. Muốn giải oan cho một linh hồn bị yểm khẩu, trước tiên phải khâu lại những vết nứt oán khí trên thân xác phàm trần của họ.

Tôi trích một giọt máu thuần dương từ đầu ngón tay trỏ, xoa đều lên sợi chỉ ngũ sắc. Sợi chỉ lập tức phát ra một luồng sáng đỏ nhạt, ấm áp.

Tôi vận chuyển luồng linh lực Thủy Vía vào đôi bàn tay, giúp các ngón tay trở nên cực kỳ linh hoạt và chuẩn xác. “Dạ Bộ” giúp tôi di chuyển quanh chiếc phản gỗ nhanh như một làn gió, không hề gây ra một tiếng động nhỏ nào làm kinh động đến oán khí bám trên cái xác khô.

“Mũi kim thứ nhất, định hồn phách!”

Tôi đâm mũi kim đồng xuyên qua lớp da teo tóp ở cổ cái xác khô. Một luồng hắc khí tanh tưởi lập tức xộc lên, định lao vào mặt tôi nhưng bị luồng dương khí từ Sổ Tay Da Bò trong ngực áo đánh tan tác.

“Mũi kim thứ hai, giải oán kết!”

“Mũi kim thứ ba, thông tam quan!”

Tôi khâu liên tiếp mười hai mũi kim dọc theo đường kinh mạch từ cổ xuống đến ngực của cái xác khô bà mụ Ty. Mỗi mũi kim đâm xuống, một sợi chỉ đen tà thuật bám trên cơ thể cụ lại tự động đứt đoạn, hóa thành những làn khói đen sì, hôi thối rồi biến mất hoàn toàn vào không trung. Thân xác khô khốc của cụ dần dần giãn ra, gương mặt vặn vẹo oán hận bắt đầu lấy lại vẻ thanh thản, bình yên của một người già đang ngủ say.

Cùng lúc đó, tôi quay ngoắt người lại phía chiếc tủ chè, bật chiếc bật lửa Zippo Quan Công lên. Ngọn lửa thuần dương màu vàng cam rực rỡ bùng cháy. Tôi ném thẳng chiếc bật lửa vào bên trong ngăn tủ, rưới thêm một ngụm rượu gừng tẩy trần mười năm mà ông Tư Lành đã chuẩn bị.

“Bùng!”

Ngọn lửa bốc cao, thiêu rụi con búp bê đất nung yểm oán “Anh Oán Trấn Hồn”.

Tiếng khóc trẻ con lanh lảnh đột ngột tắt lịm. Từ trong đống tro tàn của con búp bê đất nung, một luồng ánh sáng trắng ấm áp, hình hài một đứa trẻ sơ sinh mờ ảo bay vút ra ngoài. Đứa trẻ khẽ cúi đầu chào tôi, gương mặt nó không còn vẻ dữ tợn, oán hận nữa mà tràn ngập sự ngây thơ, thanh sạch. Nó hóa thành một đốm sáng lung linh, bay thẳng vào cuốn Sổ Tay Da Bò đang mở sẵn trên ngực tôi.

“Xoạt!”

Trang sách cổ tự động lật mở, tên của vong nhi Nguyễn Thế Bảo và bà Nguyễn Thị Ty hiện lên rực rỡ bằng những nét chữ màu vàng kim.

Hương hồn bà mụ Ty lúc này đã lấy lại được thần trí hoàn toàn. Những sợi chỉ đen khâu miệng cụ đã biến mất, phần lưỡi tâm linh mọc lại nguyên vẹn. Cụ quỳ sụp xuống đất trước mặt tôi, khóc nấc lên thành tiếng, giọng nói khàn khàn vang vọng tâm linh:

“Cảm ơn cậu… Cảm ơn cậu dòng họ Trần… Thầy pháp nhân từ! Tôi có tội… Tôi vì lòng tham, vì mấy lá vàng của Trịnh Tiến Nam năm xưa mà đã nhắm mắt làm ngơ, giấu nhẹm việc đứa con của cô Lượm sinh ra vẫn còn sống, để mặc cho hắn mang đứa trẻ đi hiến tế cho lão thầy pháp Tám Hoài… Tôi đáng chết… Tôi đã phải trả giá bằng hai mươi năm sống không bằng chết trong căn phòng tối tăm này…”

“Chị Ty, thời gian không còn nhiều.” Tôi cắt lời cụ, giọng nghiêm nghị: “Trịnh Tiến Nam và Lão Tám Hoài đang chuẩn bị hoàn thành Thiên Linh Đại Trận tại dốc Quỷ Khóc. Chị có biết cách nào để bẻ gãy pháp trận của chúng không?”

Bà mụ Ty vội vàng gật đầu, cụ chỉ tay xuống phía dưới chiếc phản gỗ lim đen bóng:

“Dưới ván phản gỗ… có một chiếc hộp sắt rỉ sét… Đó là thứ duy nhất tôi lén giữ lại trước khi bị lão Tám Hoài yểm bùa. Trong đó là cuốn sổ nhật ký đỡ đẻ năm 1975 của nhà bảo sanh… Có chữ ký và dấu vân tay bằng máu của Trịnh Tiến Nam xác nhận việc nhận nuôi và mang đứa trẻ đi… Đó là nhân chứng vật chứng mạnh nhất của dương gian! Chỉ cần cậu mang thứ đó đến trước mặt cô Lượm tại dốc Quỷ Khóc, dùng luật nhân quả bẻ gãy lời thề ước giả dối của Trịnh Tiến Nam, cô Lượm sẽ hoàn toàn thức tỉnh tình mẫu tử, tự tay bẻ gãy pháp trận của lão Tám Hoài!”

“Được rồi. Chị đi đầu thai đi.” Tôi nhẹ nhàng nói.

Bà mụ Ty cúi đầu lạy tôi ba lạy nữa rồi bóng hình cụ tan biến vào hư không, hóa thành một luồng dương khí ấm áp dạt dào bay thẳng vào cuốn Sổ Tay Da Bò.

“Ầm!”

Một luồng linh lực khổng lồ từ cuốn sổ tay bộc phát, chảy tràn vào kinh mạch tôi như một dòng sông vỡ đê. Toàn thân tôi ấm áp lạ thường, vết thương do phát đạn sượt qua bả vai trái hoàn toàn biến mất không để lại một vết sẹo nhỏ. Tu vi cảnh giới Nhập Trần của tôi trong nháy mắt đạt đến độ viên mãn cực hạn, dương khí cuồn cuộn trong lồng ngực mạnh mẽ đến mức khiến tôi có cảm giác mình có thể dùng một tay bóp nát bất kỳ con oán quỷ nào.

“Phát béo! Cạy ván phản gỗ lên nhanh!” Tôi gầm lên.

Phát béo không thèm nề hà, gã dùng chiếc chày dâu tằm bẩy mạnh một tấm ván gỗ lim lên. Dưới ngăn hầm tối tăm bám đầy mạng nhện, quả nhiên có một chiếc hộp sắt rỉ sét cỡ bằng bàn tay nằm im lìm.

Quỳnh nhanh chóng lao tới, dùng tay trái mở nắp hộp sắt ra. Bên trong là một cuốn sổ tay bìa da màu nâu cũ kỹ, loang lổ những vệt máu khô và chữ ký bằng mực đen rõ ràng của Trịnh Tiến Nam từ hai mươi năm trước.

“Tìm thấy rồi! Đây chính là chìa khóa để phá vỡ Luật Nhân Quả của Lão Tám Hoài!” Quỳnh reo lên, ánh mắt cô rực sáng dưới ánh đèn pin.

“Đi thôi! Lần này, Lão Tám Hoài và Trịnh Tiến Nam hết đường chối tội.” tôi siết chặt chiếc hộp sắt, quay người lao thẳng ra ngoài hành lang.

Ba chúng tôi chạy nhanh xuống cầu thang Block C, tiếng động cơ của chiếc xe tải IFA gầm rú vang dội trong đêm mưa bão, xé toạc màn sương mù dày đặc hướng thẳng về phía dốc Quỷ Khóc.

Thế nhưng, ngay khi chiếc xe tải IFA vừa lao ra khỏi cổng khu tập thể Nguyễn Công Trứ, chiếc điện thoại công cộng màu xanh lá cây đặt bên lề đường bỗng nhiên đổ chuông liên hồi giữa bão giông gầm rú.

“Reng… Reng… Reng…”

Âm thanh chói tai, lạnh ngắt vang lên đều đặn như tiếng chuông gọi hồn từ cõi chết.

Tôi khẽ nhíu mày, ra hiệu cho Phát béo dừng xe. Một dự cảm chẳng lành cực kỳ mãnh liệt dâng lên trong lòng tôi. Tôi mở cửa cabin, bước nhanh dưới màn mưa xối xả, nhấc ống nghe điện thoại lên.

Từ đầu dây bên kia, không có tiếng mưa bão, chỉ có một tiếng cười khành khạch, rợn người quyện lẫn mùi dầu gió Con Ó nồng nặc phát ra qua ống nghe:

“Trần Sinh… Mày nghĩ mày vừa cứu được bà mụ Ty là đã thắng sao? Quay về nghĩa trang ngoại ô đi… Sư phụ Tư Lành của mày… đang đợi mày về nhặt xác đấy… Khành khạch…”

Tùy chỉnh hiển thị

18px
1.8