Sổ Tay Bắt Ma Của Kẻ Gom Xác
Chương 29: Di vật của kẻ phản bội

Cập nhật lúc: 2026-07-02 15:15:22 | Lượt xem: 5

Sương mù của buổi sáng sớm cuối năm 1995 không khác gì một nồi sữa đặc pha loãng dội thẳng xuống đầu người đi đường. Cái lạnh của vùng đê sông Hồng lúc này giống như một gã giang hồ thô lỗ, không thèm gõ cửa mà cứ thế dùng dao găm thọc thẳng qua lớp áo bông mỏng manh, cắm sâu vào tận xương tủy. Gió bấc rít lên từng hồi qua những rặng tre già ven đê, tạo nên những âm thanh u uất như tiếng khóc hờ của người đàn bà mất con.

Ở góc sân nghĩa trang ngoại ô, Phát béo đang dùng hết sức bình sinh để chằng buộc một cái bọc lớn sau yên chiếc xe Cup 81 của Ông Tư Lành. Thân hình mập mạp của gã run lên bần bật như một chiếc máy xát gạo đời cũ gặp sự cố. Gã vừa siết chặt sợi dây thừng gai ráp ráp vào khung sắt xe, vừa lầm bầm khấn vái lia lịa bằng cái giọng méo xệch:

“Con lạy phương chín hướng, con lạy mười phương chư Phật, lạy hồn cụ Nguyễn Thế Bảo linh thiêng. Con chỉ là gã tài xế quèn, nhiệm vụ của con là đưa cụ về nơi chôn rau cắt rốn an toàn, cụ có dọc đường mỏi lưng hay ngứa ngáy thì cứ nhằm thằng Sinh mà vật, đừng có bóp cổ con giữa đường đê trơn trượt này nha cụ…”

Cách đó không xa, tôi đứng tựa lưng vào cột hiên chòi canh, hai mắt khẽ nhắm lại. Trong lồng ngực tôi, luồng linh lực Thủy Vía nhận được từ vong hồn Lê Văn Thịnh đang chầm chậm vận hành dọc theo các kinh mạch. Mỗi một chu thiên chạy qua, một luồng khí mát lành, dễ chịu lại lan tỏa ra khắp cơ thể, giống như một dòng nước ấm xoa dịu vết thương do phát đạn sượt qua bả vai trái đêm qua. Cảm giác đau nhức âm ỉ dần biến mất, thay vào đó là một luồng dương khí dồi dào chạy dọc sống lưng, giúp tôi đứng vững trước cái lạnh buốt xương của thời tiết miền Bắc.

Tôi khẽ mở mắt, thở ra một ngụm hơi trắng xóa. Vết thương vật lý thì đã đỡ, nhưng vết thương lòng – hay nói đúng hơn là nỗi đau ví tiền – thì vẫn đang rỉ máu. Cái nghèo nó bám đuổi tôi dai dẳng hơn cả lũ oán quỷ. Chuyến đi này coi như là làm không công, lại còn phải đèo bồng thêm một đồng chí cảnh sát đang trúng ngải nặng nề. Đúng là tâm linh không đùa được đâu, nhưng nghèo đói thì càng không thể đùa được.

Bỗng nhiên, hai bên thái dương tôi giật nảy lên một cái đau nhói. Cảm giác như có ai đó vừa dùng một nắm ớt bột trộn lẫn với dầu hỏa nhét thẳng vào mũi tôi. Năng lực “Khứu Giác Oán Khí” mới đột phá đêm qua lập tức bị kích thích mạnh mẽ, hoạt động hết công suất.

Giữa không khí lạnh buốt của buổi sớm, có một mùi hương cực kỳ quái dị đang xộc tới. Đó là mùi tử khí nồng nặc, tanh tưởi của một xác chết vừa mới nằm xuống không lâu, nhưng điều đáng nói là nó bị trộn lẫn với mùi dầu gió Nhãn Hiệu Con Ó nồng nặc đến nghẹt thở. Cái mùi hăng hắc, cay nồng của dầu gió vốn dùng để giữ ấm cho người sống, nay lại được dùng để che đậy mùi thối rữa của cõi âm, tạo nên một thứ hỗn hợp mùi hương khiến người ta muốn nôn mửa ngay lập tức.

Tôi lập tức thọc tay vào túi áo khoác, rút chiếc thước tầm long bằng đồng ra. Vừa mới xuất hiện, kim đồng trên thước đã xoay vù vù như chong chóng tre gặp bão, sau đó đứng khựng lại, chỉ thẳng về phía bãi chuối hột hoang dại nằm khuất sau dốc Quỷ Khóc dưới triền đê sông Hồng.

“Phát béo, dừng tay lại.” Tôi trầm giọng nói, mắt vẫn nhìn chằm chằm vào hướng chiếc thước tầm long chỉ.

Phát béo giật nảy mình, suýt nữa thì làm rơi cả cuộn dây thừng gai. Gã quay lại, mặt cắt không còn một giọt máu, mếu máo hỏi:

“Lại… lại có chuyện gì nữa hả mày? Đừng bảo là cụ Bảo không chịu đi nhé? Tao đã chằng buộc kỹ lắm rồi mà!”

“Không phải vong nhi.” Tôi bước nhanh xuống sân nghĩa trang, mắt âm dương khẽ híp lại để nhìn xuyên qua màn sương mù dày đặc đang cuồn cuộn bốc lên từ lòng sông. “Mùi dầu gió Con Ó… và tử khí cực nặng dưới bãi chuối. Có kẻ vừa mới chết ở dưới đó.”

Đúng lúc này, Vũ Thúy Quỳnh bước ra khỏi chòi canh của Ông Tư Lành. Sắc mặt cô xanh xao, quầng thâm dưới mắt hiện rõ sau một đêm chống chọi với Ấn Ký Đoạt Hồn. Cánh tay phải của cô, vốn bị tà thuật của Lão Tám Hoài làm cho co quắp đen sạm, nay đã được sợi chỉ ngũ sắc của tôi quấn chặt để tạm thời áp chế dương khí không bị bào mòn thêm. Dù bước đi có phần lảo đảo, nhưng ánh mắt của nữ cảnh sát hình sự vẫn sắc lẹm như dao cạo. Cô nghe thấy lời tôi nói, tay trái lập tức đặt lên bao súng rỗng bên hông theo bản năng.

“Anh Sinh, anh ngửi thấy gì sao?” Quỳnh hỏi, giọng cô hơi khàn nhưng đầy cảnh giác.

“Trần Phong chết rồi.” Tôi nhìn cô, nói bằng giọng phẳng lặng không chút gợn sóng. “Tử khí này cực kỳ quen thuộc. Đêm qua hắn vừa đấu với tôi, mùi máu và oán khí của hắn không thể lẫn đi đâu được. Hơn nữa, mùi dầu gió Con Ó bao quanh tử khí kia… chính là dấu vết của Lão Tám Hoài.”

Gương mặt Quỳnh thoáng chốc biến sắc. Dù cô đã biết Trần Phong là kẻ phản bội sát hại Lê Thị Mai để cầu vinh hoa phú quý, nhưng cái tên ấy vẫn từng là đồng nghiệp, là người đàn anh từng vào sinh ra tử và đỡ cho cô một nhát dao chí mạng năm xưa. Sự giằng xé giữa lòng căm phẫn tột cùng và nỗi xót xa ê chề hiện rõ trên từng thớ cơ trên mặt cô.

“Chúng ta xuống đó.” Quỳnh mím chặt môi, ánh mắt đanh lại.

“Đồng chí cảnh sát, cô đứng sau tôi.” Tôi cảnh báo, đồng thời ra hiệu cho Phát béo mang theo hũ rượu gừng phòng thân. “Bãi chuối hột dốc Quỷ Khóc từ xưa đến nay vốn là nơi tụ âm, sương mù dày thế này rất dễ bị quỷ che mắt.”

Cả ba chúng tôi nhanh chóng băng qua con đường đê trơn trượt đầy bùn đất đỏ, đi xuống triền đê hướng về phía bãi chuối hoang dại. Sương sương rơi sột soạt trên những tàu lá chuối xanh đen ướt sũng. Tiếng quạ kêu thê thiết từ ngọn đa già phía xa vọng lại, nghe như tiếng cười quái đản của lũ cô hồn dã quỷ đang chờ chực xem kịch hay.

Càng đi sâu vào bãi chuối, mùi tử khí trộn lẫn dầu gió càng trở nên nồng nặc. Khứu giác oán khí của tôi bị kích thích đến mức thái dương đau nhói như có kim châm. Tôi phải vận chuyển Thủy Vía liên tục lên đại não để giữ cho đầu óc không bị ảo giác xâm chiếm.

“Bên kia!” Phát béo bỗng run rẩy chỉ tay về phía một hốc đất trũng nằm khuất sau những gốc chuối hột cổ thụ.

Dưới hốc đất, một chiếc xe máy Mink sơn màu xanh rêu nằm đổ kềnh, bánh xe sau vẫn còn dính đầy bùn non chưa kịp khô. Ngay cạnh chiếc xe, dưới gốc một cây chuối hột bị gãy ngang, là xác của Đại úy Trần Phong.

Hắn chết trong tư thế quỳ gục, hai tay cào cấu xuống đất bùn như muốn tìm kiếm một con đường sống. Đầu hắn ngoẹo sang một bên, hai mắt trợn trừng trắng dã, đồng tử giãn to hết cỡ chứa đầy sự kinh hoàng tột độ, miệng há hốc rỉ ra một chút dịch đen đặc bốc mùi hôi thối. Điều đáng sợ nhất là toàn bộ da thịt trên cơ thể hắn đã khô quắt, teo tóp lại như một trái táo tàu phơi khô lâu ngày, bám sát vào khung xương. Sắc phục cảnh sát trên người hắn rộng thùng thình, phủ đầy một lớp sương muối lạnh ngắt.

Hắn đã bị rút cạn sạch sẽ toàn bộ máu chí dương trong người.

Quỳnh lảo đảo lùi lại một bước, gương mặt cô trắng bệch, không còn một giọt máu. Cô đưa tay lên che miệng, nước mắt không tự chủ được mà trào ra nơi khóe mắt. Kẻ đêm qua còn cầm súng K54 truy sát chúng tôi với vẻ mặt hung tàn, kẻ từng là niềm tự hào của đội hình sự, nay lại nằm đây như một cái vỏ khô không hồn, bị chính chủ nhân của mình vứt bỏ không thương tiếc.

“Trần Phong…” Quỳnh thì thầm, giọng nói chứa đựng sự u uất tột cùng.

“Đừng chạm vào hắn!” Tôi vội vàng kéo tay Quỳnh lại khi thấy cô định bước tới gần cái xác. “Tà khí của Lão Tám Hoài vẫn còn vương trên di thể của hắn cực kỳ đậm đặc. Cô đang trúng ngải, chạm vào là Ấn Ký Đoạt Hồn sẽ phát tác ngay lập tức.”

Tôi rút chiếc bật lửa Zippo khắc hình Quan Công ra, quẹt lửa. Ngọn lửa màu vàng cam ấm áp bùng lên, tôi đưa ngọn lửa hơ nhẹ một vòng xung quanh thi thể của Trần Phong. Luồng dương hỏa từ bật lửa chạm vào lớp sương muối trên người hắn liền phát ra những tiếng “xèo xèo” nhỏ, kèm theo một làn khói đen nhạt bốc lên rồi nhanh chóng tan biến vào hư không.

Sau khi tản bớt âm khí bám trên xác chết, tôi dùng đầu thước tầm long bằng đồng khều nhẹ vào túi áo khoác mưa rách nát của Trần Phong. Từ bên trong túi áo, một vật gì đó bằng giấy rơi ra, nằm im lìm trên vũng nước mưa pha lẫn bùn đất.

Đó là một tấm bản đồ bằng giấy dó cổ cũ kỹ, ẩm ướt và đã ngả sang màu vàng úa. Tôi nhặt tấm bản đồ lên, cẩn thận mở ra.

Tấm bản đồ vẽ lại chi tiết toàn bộ dòng chảy của sông Hồng đoạn qua khu vực ngoại ô Hà Nội. Nhưng điều khiến cả ba chúng tôi phải rùng mình là ngay tại khúc cua dốc Quỷ Khóc, có một dấu thập màu đỏ chói được vẽ bằng máu đã khô cứng. Ngay bên cạnh dấu thập đó, ai đó đã dùng nét bút sắc lẹm viết lên hai chữ viết hoa nguệch ngoạc nhưng đầy oán khí:

“LƯỢM”.

“Lượm… Nguyễn Thị Lượm?” Quỳnh thốt lên, cô nhìn chằm chằm vào hai chữ viết bằng máu trên tấm bản đồ.

Tôi lật mặt sau của tấm bản đồ giấy dó lên, định xem có thêm manh mối gì không. Thế nhưng, ngay khi nhìn thấy những nét vẽ mờ nhạt bằng mực chu sa ở mặt sau, toàn thân tôi bỗng chốc đông cứng lại.

Đó là một sơ đồ phong ấn trận pháp cổ, và ở góc dưới cùng của tấm bản đồ, có một ký hiệu hình chữ “Trần” viết theo lối cổ tự, kèm theo một dòng chữ Nho nhỏ xíu mà tôi đã quá quen thuộc kể từ khi còn là một đứa trẻ học chữ bên bàn thờ tổ tiên.

Đó là nét chữ của ông nội tôi.

“Đây là… di vật của ông nội tao.” Tôi thì thầm, lồng ngực phập phồng thở dốc, hai bàn tay siết chặt lấy mép tấm bản đồ đến mức giấy dó muốn rách ra.

Hóa ra, Trần Phong không phải vô tình tìm thấy tấm bản đồ này. Hắn đã âm thầm đột nhập vào ngôi nhà cũ của dòng họ Trần từ trước, đánh cắp tấm bản đồ phong ấn mà ông nội tôi để lại để dâng cho Lão Tám Hoài. Nhưng gã đại úy cảnh sát ngu muội kia không bao giờ ngờ được rằng, ngay từ khoảnh khắc hắn chạm tay vào tấm bản đồ này, số phận của hắn đã được định đoạt. Hắn chỉ là một con cờ thí mạng không hơn không kém.

“Mày nói cái gì cơ? Di vật của cụ nội mày á?” Phát béo lắp bắp, gã sợ đến mức hai chân cứ xoắn vào nhau. “Thế… thế sao nó lại nằm trong tay thằng Phong? Lão Tám Hoài rốt cuộc muốn làm cái gì?”

“Để tao giải thích cho.”

Một giọng nói trầm khàn, mệt mỏi vang lên từ phía sau màn sương mù. Ông Tư Lành khập khễnh bước tới, chiếc chân thọt của ông kéo lê trên đất bùn tạo nên những vệt dài u ám. Tẩu thuốc lào trên môi ông đã tắt ngóm từ bao giờ, gương mặt khắc khổ của ông lúc này xám ngoét, đôi mắt một bên đeo băng đen hiện rõ vẻ u uất tột cùng khi nhìn vào tấm bản đồ trên tay tôi.

“Ông Tư!” Tôi quay lại nhìn ông.

Ông Tư Lành dừng lại trước xác của Trần Phong, thở dài một tiếng đầy cay đắng:

“Thằng ranh con, mày nhìn kỹ cái xác của hắn đi. Toàn bộ máu chí dương trong người đã bị rút cạn, da thịt teo tóp. Đây là thuật ‘Huyết Tế Đoạt Phách’. Lão Tám Hoài không hề coi thằng Phong là đệ tử, lão chỉ nuôi hắn như nuôi một con heo béo để chờ ngày xuất chuồng thôi.”

Ông Tư Lành chỉ tay về phía dốc Quỷ Khóc trên tấm bản đồ, giọng ông run lên vì căm phẫn:

“Hai mươi năm trước, con bé Nguyễn Thị Lượm bị kẻ gian hại chết oan uổng, xác bị quấn xích sắt dìm xuống đáy sông Hồng ngay tại dốc Quỷ Khóc này. Oán khí của nó tích tụ hai mươi năm, biến nó thành Quỷ Oán Sông Đỏ, cai quản toàn bộ cô hồn dã quỷ khúc sông này. Lão Tám Hoài muốn luyện Thiên Linh Đại Trận, bắt buộc phải dùng Nguyễn Thị Lượm làm nhãn trận cõi âm. Nhưng oán khí của con bé Lượm quá mạnh, lão không thể khống chế được.”

Ông Tư Lành dừng lại, hít một hơi thật sâu rồi nói tiếp:

“Vì vậy, lão đã dụ dỗ thằng Phong phạm tội ác, để hắn sát hại con bé Mai trong bụi chuối hột kia. Thằng Phong là cảnh sát hình sự, trên người vốn mang dương cương chi khí của luật pháp. Khi hắn phạm tội ác tày trời, dương khí biến thành oán khí cực thịnh. Đêm qua, sau khi thằng Phong thất bại trong việc cướp cuốn Sổ Tay Da Bò của mày, Lão Tám Hoài đã ra tay sát hại hắn ngay tại đây, dùng máu chí dương và oán niệm của hắn để gia cố phong ấn lên người Nguyễn Thị Lượm, ép con bé Lượm phải hoàn toàn nghe theo mệnh lệnh của lão.”

“Tàn độc… Quá tàn độc!” Quỳnh nghiến răng đến mức bật máu tươi nơi khóe môi. Cô không thể tin được một kẻ mang danh thầy phong thủy từ thiện lại có thể coi mạng người như cỏ rác, bày ra những âm mưu kinh tởm đến mức này.

Tôi nhìn chằm chằm vào chữ “LƯỢM” viết bằng máu trên tấm bản đồ. Cuốn Sổ Tay Da Bò ở ngực áo tôi bỗng nhiên rung lên bần bật, tỏa ra một luồng nhiệt lượng nóng rực như muốn thiêu cháy da thịt. Tôi hiểu ý của cuốn sổ. Oán khí của Nguyễn Thị Lượm đang trỗi dậy mạnh mẽ dưới lòng sông Hồng, và nếu tôi không đến đó giải thoát cho cô ta, Lão Tám Hoài sẽ hoàn thành Thiên Linh Đại Trận. Lúc đó, không chỉ có dòng họ Trần của tôi bị diệt môn tuyệt hộ, mà cả vùng đất này sẽ biến thành một địa ngục trần gian thực sự.

“Chúng ta không thể đi thẳng về quê chôn cất vong nhi Nguyễn Thế Bảo nữa.” Tôi quay sang nhìn Phát béo và Quỳnh, giọng nói đanh lại đầy kiên định. “Lộ trình phải thay đổi. Chúng ta sẽ đi qua dốc Quỷ Khóc. Tôi phải chặn Lão Tám Hoài lại trước khi lão kịp thu hoạch hồn phách của Nguyễn Thị Lượm.”

Phát béo nghe thấy thế thì mặt mũi xám xịt như tro bếp. Gã ôm khư khư lấy cái hũ sành chứa vong nhi Nguyễn Thế Bảo sau yên xe Cup 81, khóc ròng:

“Sinh ơi là Sinh! Tao biết ngay mà, đi với mày lúc nào cũng là combo hủy diệt hết á! Dốc Quỷ Khóc… nghe cái tên thôi đã thấy muốn đi đầu thai rồi! Nhưng mà…” Gã nhìn tôi, rồi lại nhìn sang Quỳnh đang mệt mỏi chịu đựng đau đớn, thở dài một tiếng thườn thượt. “Nhưng mà mày đi đâu thì tao đi đó. Tao tuy nhát gan thật, nhưng tao không thể để mày đi nộp mạng một mình được. Với lại… tao cũng muốn xem mặt mũi con quỷ nước kia tròn méo ra sao!”

Quỳnh bước lại gần tôi, ánh mắt cô không còn chút do dự nào nữa. Cô đưa bàn tay trái còn lành lặn ra, nắm chặt lấy vạt áo khoác đen của tôi:

“Tôi đi cùng hai người. Món nợ này, tôi phải đòi lại cho cả Lê Thị Mai, cho vong nhi tội nghiệp, và… cả cho gã đồng nghiệp lầm đường lạc lối này nữa. Pháp luật dương gian chưa trừng trị được Lão Tám Hoài, thì tôi sẽ cùng anh dùng luật âm phần để phán xét lão!”

Tôi nhìn hai người đồng hành của mình, trong lòng dấy lên một luồng ấm áp kỳ lạ giữa buổi sáng mùa đông lạnh giá. Tôi khẽ gật đầu, cất tấm bản đồ giấy dó vào túi áo ngực, bên cạnh cuốn Sổ Tay Da Bò đang rục rịch chuyển động.

“Được rồi.” Tôi quay sang nhìn Ông Tư Lành. “Ông Tư, ông ở lại nghĩa trang bảo trọng. Chúng tôi đi đây.”

“Đi đi, thằng ranh con.” Ông Tư Lành khẽ mỉm cười, nụ cười chứa đựng sự tin tưởng tuyệt đối dành cho hậu duệ duy nhất của dòng họ Trần. “Nhớ lấy lời tao, cứu người sống trước, độ người chết sau. Giữ vững cái tâm của kẻ gom xác, ma quỷ sẽ không làm gì được mày.”

Tôi vặn ga chiếc xe Cup 81. Tiếng động cơ nổ giòn tan vang vọng khắp triền đê sương mù. Phát béo ngồi phía sau ôm chặt lấy hũ sành của Nguyễn Thế Bảo, còn Quỳnh ngồi sau cùng, giữ chặt lấy tấm bạt rách phủ trên xe.

Chiếc xe máy lao vút vào màn sương mù dày đặc, hướng thẳng về phía dốc Quỷ Khóc – nơi bóng tối và oán khí hai mươi năm đang chờ đợi chúng tôi khai mở một trang sách mới đẫm máu và nước mắt.

Tùy chỉnh hiển thị

18px
1.8