Sổ Tay Bắt Ma Của Kẻ Gom Xác
Chương 63: Trà hoa cúc của Ông Tư Lành

Cập nhật lúc: 2026-07-02 17:25:11 | Lượt xem: 4

Chiếc xe Cup 81 của Ông Tư Lành nổ máy giòn giã giữa màn sương mù đặc quánh của buổi chiều muộn cuối năm 1995. Tiếng động cơ hai thì kêu bành bành, nhả ra những làn khói xanh mờ lẫn vào cái lạnh căm căm của đường đê sông Hồng.

Hà Nội những ngày cận Tết năm ấy lạnh đến mức người ta cảm giác như chỉ cần thở mạnh một cái là hơi thở sẽ đông cứng lại thành những viên đá nhỏ rơi lã chã xuống mặt đường nhựa bong tróc. Gió từ lòng sông thốc lên, buốt đến tận xương tủy, luồn qua lớp áo khoác dạ đen bạc màu của tôi, cào cấu vào da thịt như muốn nhắc nhở rằng cái chết đang ở rất gần.

Tôi một mình điều khiển chiếc xe máy cà tàng, một tay giữ chặt ghi-đông, tay kia thỉnh thoảng lại đưa lên day day hai bên thái dương đang giật lên từng hồi đau buốt. Kể từ khi năng lực Khứu Giác Oán Khí đột phá lên độ viên mãn cực hạn sau trận chiến sinh tử trên cầu Chương Dương, đại não của tôi chưa từng được yên ổn một giây phút nào.

Nó giống như việc bạn đột ngột bị bắt phải nghe một dàn đồng ca gồm hàng vạn người đang gào thét vào tai cùng một lúc. Chỉ cần đi qua một đoạn đê hẻo lánh, tôi cũng có thể ngửi thấy mùi bùn non tanh nồng trộn lẫn với mùi mục rữa của những cái xác không người thừa nhận nằm sâu dưới lòng đất từ hàng chục năm trước. Đi qua một gốc đa cổ thụ, khứu giác lại bị tra tấn bởi mùi nhang tàn, mùi tro giấy tiền vàng mã và cả mùi âm khí lạnh ngắt của những cô hồn dã quỷ đang đói khát lảng vảng xung quanh.

Tôi cần một nơi để tĩnh tâm. Một nơi mà âm khí đủ tĩnh lặng, không ô tạp, không xô bồ như cái phố thị đang oằn mình lột xác ngoài kia để điều hòa lại luồng dương khí cuồn cuộn mà cuốn Sổ Tay Da Bò vừa ban tặng sau khi tôi siêu độ cho mẹ con chị Lượm và ba người công nhân xấu số. Và nơi duy nhất tôi có thể nghĩ đến lúc này chính là nghĩa trang ngoại ô hoang vắng.

***

Trong khi tôi đang chịu đựng cơn đau buốt óc trên đường đê sông Hồng thì tại tiệm mai táng An Lạc ở ngõ Khâm Thiên, không khí cũng chẳng mấy khấm khá hơn. Mùi tỏi ta nồng nặc bốc lên từ chiếc cối đá xanh đặt ngay giữa sân, át đi cả mùi nhang bài đặc trưng của tiệm.

Phát béo đang trần lưng, mồ hôi nhễ nhại dù nhiệt độ ngoài trời chỉ khoảng mười độ C. Gã cầm chiếc chày gỗ dâu tằm giã côm cốp vào mớ tỏi trộn lẫn với chu sa đỏ lòm, miệng liên tục lẩm bẩm khấn vái:

“Nam mô A Di Đà Phật, lạy chín phương trời mười phương đất, lạy Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. Con giã tỏi này là để trừ tà cứu người, chứ không có ý định làm nước mắm chấm thịt vịt đâu nha các cụ khuất mặt khuất mày. Có oán có thù thì cứ tìm lão Tám Hoài mà đòi, đừng có bám vào cái thân xác trăm cân đầy mỡ của con…”

Quỳnh ngồi trên chiếc ghế tre sộc sệch sát hiên nhà, bả vai phải của cô vẫn còn quấn chặt sợi chỉ ngũ sắc bảo mạng. Sắc mặt cô tuy còn hơi tái vì Ấn Ký Đoạt Hồn thỉnh thoảng lại âm ỉ phát tác, nhưng đôi mắt đen láy vẫn giữ nguyên vẻ kiên định, lạnh lùng của một nữ cảnh sát hình sự. Cô đang tỉ mẩn dùng đôi bàn tay thon thả của mình xâu những sợi chỉ ngũ sắc thành những chiếc vòng nhỏ đeo cổ và tay, thỉnh thoảng lại khẽ nhíu mày nén cơn đau buốt truyền đến từ bả vai.

“Phát béo, anh giã tỏi hay là đang tập tạ thế?” Quỳnh khẽ lên tiếng, giọng nói trong vắt nhưng mang theo vài phần mệt mỏi. “Giã vừa thôi, mùi tỏi bay khắp ngõ Khâm Thiên rồi. Người ta không biết lại tưởng tiệm An Lạc mở quán thịt chó đấy.”

Phát béo dừng chày, đưa tay quệt mồ hôi trán, mếu máo quay lại nhìn Quỳnh:

“Cô cảnh sát ơi là cô cảnh sát, cô thì sướng rồi, chỉ việc ngồi xâu chỉ ngũ sắc quý tộc. Còn tôi thì phải chuẩn bị mười cân tỏi ta, năm mươi cân muối hột theo lệnh của Ông Tư. Mà cô xem cái thằng Sinh Sát Quỷ kia kìa, nó nợ lương tôi ba tháng nay chưa trả, thế mà giờ còn bắt tôi làm phu khuân vác, chuẩn bị cỗ xe trừ tà chiến đấu với Lão Tám Hoài. Đêm qua suýt nữa thì cả lũ làm mồi cho cá sông Hồng rồi, thế mà hôm nay nó lại biến đâu mất tiêu, để lại tôi với đống việc này. Đúng là bóc lột sức lao động của người nghèo mà!”

Quỳnh khẽ mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi xuất hiện trên gương mặt nghiêm nghị của cô. Cô nhìn chiếc xe tải IFA cũ kỹ đang đỗ ngoài sân, bốn bánh xe đã được Phát béo cẩn thận quét một lớp nhựa dâu tằm đen xì, bốc lên mùi hăng hắc quái dị. Thùng xe tải dán kín những lá bùa Sắc Lệnh màu đỏ do tôi vẽ bằng máu đầu ngón tay từ đêm trước, trông chẳng khác nào một cỗ linh xa bước ra từ những bộ phim kinh dị Hồng Kông thời bấy giờ.

“Anh Sinh đi có việc cần thiết.” Quỳnh nhẹ nhàng nói, ánh mắt cô nhìn về phía con ngõ nhỏ sâu hút dẫn ra đường lớn. “Anh ấy vừa trải qua trận chiến lớn, kinh mạch bị chấn động. Tôi có thể cảm nhận được áp lực mà anh ấy đang gánh vác. Nghề gom xác này… hóa ra không đơn giản chỉ là nhặt xác kiếm tiền như người ta vẫn tưởng.”

“Ch chứ sao nữa cô!” Phát béo thở dài, ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào chiếc cối đá. “Cái thằng Sinh ấy mà, miệng thì lúc nào cũng đòi tiền sòng phẳng, sợ nghèo hơn sợ ma, nhưng thực chất bên trong nó mềm lòng lắm. Gặp cái xác nào chết oan, chết nghèo không có tiền chôn, nó toàn tự bỏ tiền túi ra mua quan tài gỗ thông rồi tự tay khâu xác, khâm liệm cho người ta. Ông nội nó ngày xưa cũng thế, cả đời tích lũy âm đức gom xác, cuối cùng chết cũng chẳng có nổi một tấm quan tài tử tế, phải chôn tạm ở nghĩa trang ngoại ô. Tôi chơi với nó từ bé, lạ gì cái tính gàn dở của nó.”

Quỳnh im lặng lắng nghe, bàn tay cô siết nhẹ sợi chỉ ngũ sắc. Trong thâm tâm cô, hình ảnh gã phu gom xác lầm lì, nước da tái nhợt và luôn thoang thoảng mùi cồn khử trùng trộn lẫn mùi nhang bài đang dần thay đổi. Anh không phải là kẻ mê tín dị đoan kiếm tiền trên xác chết, mà là một kẻ gác cổng cô độc giữa hai cõi âm dương, dùng cả mạng sống của mình để đòi lại công lý cho những vong hồn không còn tiếng nói.

***

Chiếc xe Cup 81 rẽ vào con đường đất lầy lội dẫn vào nghĩa trang ngoại ô. Sương chiều buông xuống nhanh chóng, nuốt chửng những rặng tre xơ xác dọc hai bên lối đi. Không gian tĩnh mịch đến mức tôi có thể nghe rõ tiếng những hạt sương lạnh rớt bộp bộp xuống lớp lá khô trên mặt đất.

Tôi dựng xe dưới gốc cây đa cổ thụ ở cổng nghĩa trang. Nơi này vắng lặng, chỉ có hàng ngàn ngôi mộ đất im lìm nằm san sát nhau dưới bóng tối nhập nhoạng. Nhưng kỳ lạ thay, khi bước chân qua cổng nghĩa trang, cơn đau buốt ở thái dương của tôi lập tức dịu đi rõ rệt. Âm khí thuần khiết, tĩnh lặng của đất nghĩa trang giống như một liều thuốc tê mát lạnh, xoa dịu đại não đang căng như dây đàn của tôi. Luồng dương khí cuồn cuộn chảy trong kinh mạch cũng bắt đầu vận chuyển ôn hòa, ổn định trở lại.

Tôi nhìn về phía chòi canh nghĩa trang nhỏ bé nằm ở góc đồi hoang. Từ ô cửa sổ gỗ mục nát, một làn khói lam chiều mỏng manh đang lững lờ bốc lên, mang theo mùi củi tre cháy lách tách ấm áp.

Tôi nhướng mày, khẽ lẩm bẩm: “Cái lão già gàn dở này, quả nhiên là tự ý trốn viện về đây mà.”

Tôi bước nhanh về phía chòi canh, dùng bộ pháp Dạ Bộ nên không hề phát ra một tiếng động nhỏ nào trên mặt đất đầy lá khô. Khi đẩy cánh cửa gỗ mục ra, đập vào mắt tôi là bóng dáng quen thuộc của Ông Tư Lành.

Ông lão một mắt đang ngồi khòm lưng trên chiếc ghế tre sộc sệch, một chân lành gác lên thanh củi, chân đi khập khiễng kia duỗi thẳng. Bả vai trái của ông vẫn quấn băng gạc trắng loang lổ chút dịch vàng do vết thương từ trận chiến với đám âm binh rơm đêm trước, nhưng thần thái của ông đã hồng hào hơn nhiều. Trên chiếc bếp lò đất nung nhỏ giữa nhà, một ấm đất sành đang sôi sùng sục, phả ra làn hơi nước ấm áp.

“Thằng ranh con, đi đứng cái kiểu gì mà không có tiếng thở thế hả?” Ông Tư Lành không thèm quay đầu lại, rít một hơi thuốc lào từ chiếc tẩu gỗ mun quen thuộc, khói thuốc tỏa ra bảng lảng, mang theo mùi thơm nồng đặc trưng. “Định dùng Dạ Bộ để hù dọa cái thân già này đấy à?”

Tôi bước vào, tự nhiên kéo một chiếc ghế tre khác ngồi xuống đối diện ông, cằn nhằn:

“Ông Tư, cháu đã dặn thằng béo chăm sóc ông ở tiệm An Lạc cho tử tế rồi cơ mà. Vết thương do âm binh rơm cào chưa lành hẳn, tà độc tuy được Thủy Vía của cháu áp chế nhưng vẫn còn rỉ dịch kia kìa. Ông trốn về cái nơi hoang vu gió lùa bốn phía này làm cái gì? Định để cháu phải gom xác cho ông sớm à?”

Ông Tư Lành cười khà khà, gõ nhẹ chiếc tẩu thuốc vào cạnh bếp lò, tiếng “cộc cộc” vang lên giòn giã giữa không gian tịch mịch:

“Mày thì biết cái gì! Cái tiệm An Lạc của mày chật chội như cái hũ nút, lại nồng nặc mùi tỏi trộn chu sa của thằng béo, tao ngửi vào chỉ muốn nghẹt thở. Chưa kể cái mùi tiền đô la Mỹ với vàng lá Kim Thành của Lão Tám Hoài ám vào gạch bông từ hôm qua, tao ngửi thấy mà lợm cả giọng. Tao là người gác nghĩa trang, cả đời quen ngửi hơi đất, hơi sương của người khuất mặt khuất mày rồi. Về đây nằm nghe tiếng gió rít qua rặng tre còn dễ thở hơn cái phố xá chật chội ấy gấp vạn lần.”

Nói rồi, ông lão đưa tay nhấc ấm đất sành đang sôi ra khỏi bếp. Từ trong một chiếc túi vải thô treo trên vách tre, ông bốc ra một nhúm bông cúc chi vàng nhỏ đã được phơi khô héo, thả vào trong ấm. Lập tức, một mùi hương thanh khiết, mộc mạc nhưng ấm sực lan tỏa khắp căn chòi nhỏ, át đi cả mùi thuốc lào nồng nặc.

“Trà hoa cúc chi hoang đấy.” Ông Tư Lành rót thứ nước màu vàng nhạt ra hai chiếc chén sành sứt mẻ, đẩy một chén về phía tôi. “Uống đi, thứ này tốt cho cái mũi chó của mày lúc này lắm.”

Tôi đón lấy chén trà nóng, hơi ấm từ lòng chén sành truyền qua lòng bàn tay lạnh ngắt của tôi, mang lại một cảm giác dễ chịu kỳ lạ. Tôi đưa chén trà lên miệng, khẽ nhấp một ngụm nhỏ.

Vị đắng nhẹ, hơi chát của hoa cúc hoang chạm vào đầu lưỡi, nhưng ngay sau đó là một vị ngọt thanh, mát dịu đọng lại nơi cuống họng. Kỳ lạ thay, khi luồng nước trà ấm áp đi xuống dạ dày, cơn đau buốt ở hai bên thái dương của tôi lập tức biến mất hoàn toàn. Luồng dương khí cuồn cuộn chảy trong kinh mạch như tìm được bến đỗ, bắt đầu vận chuyển một cách ôn hòa, nhu thuận, sưởi ấm khắp cơ thể tôi.

“Kỳ lạ thật…” Tôi nhìn chén trà sành, kinh ngạc nói. “Trà hoa cúc này sao lại có thể xoa dịu Khứu Giác Oán Khí nhanh đến thế?”

Ông Tư Lành khẽ hớp một ngụm trà, nheo cái mắt độc nhất nhìn tôi, giọng trầm xuống:

“Đây không phải là hoa cúc chi bình thường mày mua ngoài chợ Đồng Xuân đâu. Đây là cúc chi hoang mọc ngay rìa nghĩa trang này. Chúng mọc lên từ đất nghĩa trang, rễ đâm sâu dưới lòng đất đầy tử khí, nhưng bông hoa lại hướng lên trời, hấp thụ dương khí của sương mai và ánh mặt trời. Nó là thứ ngấm cả âm lẫn dương, mang tính âm dương hòa hợp cực kỳ quý giá. Đối với những kẻ có ‘vía nặng’, lại vừa đột phá Khứu Giác Oán Khí lên viên mãn cực hạn như mày, thì đây chính là thứ tốt nhất để định thần, khóa chặt dương khí không cho tiêu tán.”

Tôi im lặng uống thêm một ngụm trà, cảm nhận sự tĩnh lặng tuyệt đối của nghĩa trang đang bao bọc lấy mình. Ở nơi này, không có sự lừa lọc của dương gian, không có những âm mưu đen tối của tập đoàn Nam Đô, cũng không có mùi dầu gió Con Ó đáng sợ của Lão Tám Hoài. Chỉ có tiếng gió, hơi đất và những linh hồn đã yên nghỉ.

***

Trong lúc tôi đang ngồi đối ẩm trà cúc hoang với Ông Tư Lành tại nghĩa trang, thì ở tiệm mai táng An Lạc, Phát béo đã quét xong lớp nhựa dâu tằm lên bánh xe tải IFA. Gã mệt rã rời, bước vào phòng trong với bộ dạng lấm lem bùn đất và nhựa cây đen xì.

“Cô cảnh sát ơi, cô xâu xong chỉ ngũ sắc chưa?” Phát béo vừa lau tay vào chiếc giẻ rách vừa hỏi. “Tôi quét nhựa dâu tằm xong rồi, giờ chỉ còn đợi thằng Sinh về vẽ bùa Sắc Lệnh dán lên thùng xe nữa là xong. Mà cô có thấy đói không? Tôi xuống bếp nấu bát mì tôm ăn tạm nhé?”

Quỳnh đặt chiếc vòng chỉ ngũ sắc cuối cùng lên bàn, khẽ gật đầu:

“Cũng được, cảm ơn anh Phát. Để tôi xuống phụ anh một tay.”

“Ấy, cô cứ ngồi đấy đi, tay cô đang bị thương do cái Ấn Ký Đoạt Hồn kia hành hạ, chạm vào nước lạnh là tà khí lại phát tác thì khổ.” Phát béo xua tay, tỏ vẻ dũng cảm. “Để thằng béo này làm cho. Thời buổi này, đàn ông không xuống bếp thì ai xuống.”

Quỳnh nhìn theo bóng Phát béo bước xuống gian bếp nhỏ phía sau, trong lòng dâng lên một cảm giác ấm áp khó tả. Ở đồn cảnh sát, cô luôn phải đối mặt với những vụ án mạng kinh hoàng, những sự phản bội tàn nhẫn như của gã đồng nghiệp Trần Phong, và những cuộc đấu tranh quyền lực ngầm lạnh lùng. Nhưng tại tiệm mai táng An Lạc nghèo nàn này, giữa những chiếc quan tài gỗ thông, những vòng hoa tang và mùi tỏi nồng nặc, cô lại tìm thấy một sự chân thành, mộc mạc và ấm áp tình người mà từ lâu cô chưa từng cảm nhận được.

Cô đứng dậy, bước đến bên chiếc xe tải IFA dán đầy bùa đỏ ngoài sân. Cô đưa tay khẽ chạm vào thùng xe gỗ mục nát, cảm nhận được hơi ấm nhẹ nhàng tỏa ra từ những lá bùa Sắc Lệnh do tôi vẽ. Cô biết, đêm nguyệt thực sau hai ngày nữa sẽ là một trận chiến vô cùng khốc liệt. Cô có thể sẽ chết, Phát béo có thể sẽ chết, và cả Trần Sinh cũng vậy. Nhưng trong lòng cô lúc này không hề có một chút sợ hãi nào, chỉ có một niềm tin kiên định vào công lý — thứ công lý dương gian mà cô đại diện, phối hợp với công lý âm phần mà tôi đang gánh vác.

***

Quay trở lại chòi canh nghĩa trang, bóng tối đã hoàn toàn nuốt chửng không gian bên ngoài. Những đốm lân tinh màu xanh lục bắt đầu lập lòe, bay lượn lờ trên những ngôi mộ đất hoang vắng như những đốm lửa ma trơi.

Ông Tư Lành đặt chén trà rỗng xuống bàn tre, ánh mắt ông lão một mắt bỗng trở nên nghiêm nghị, nhìn thẳng vào tôi:

“Thằng ranh con, mày đã thực sự chuẩn bị sẵn sàng cho trận chiến vào đêm nguyệt thực sau hai ngày nữa chưa?”

Tôi siết chặt chén sành trong tay, ánh mắt lộ rõ vẻ kiên định cùng thù hận mười năm trước:

“Cháu sẵn sàng rồi, Ông Tư. Mười năm trước, Lão Tám Hoài dùng tà thuật hại chết bố mẹ cháu, giam cầm linh hồn họ suốt mười năm qua trong đau đớn. Đêm qua, lão lại dùng xác Trần Phong để tấn công cháu, sát hại bao nhiêu người vô tội chỉ để luyện cái Thiên Linh Đại Trận chết tiệt kia. Cháu không thể lùi bước được nữa. Dù có phải hồn bay phách tán, cháu cũng phải băm vằm lão thành trăm mảnh!”

Ông Tư Lành thở dài một tiếng, tiếng thở dài trĩu nặng oán khí và nhân tình thế thái của một người đã sống gần trọn đời người gác cổng cõi âm. Ông đưa tay vỗ mạnh lên bả vai tôi, giọng nói trầm khàn nhưng đanh thép:

“Mày có sát ý, đó là chuyện bình thường của một kẻ làm con muốn báo thù cho cha mẹ. Nhưng thằng ranh con ạ, mày phải nhớ kỹ lời tao dạy: *Tà không thể thắng Chánh, nhưng Chánh nếu chỉ có Sát ý thì cũng sẽ hóa tà*. Lão Tám Hoài mạnh ở tà thuật, nhưng điểm yếu lớn nhất của lão chính là lòng tham vô độ và sự đứt gãy nhân quả do lão tự tay tạo ra.”

Ông Tư chỉ tay ra ngoài cửa sổ, nơi những đốm lân tinh đang bay lượn:

“Lão dùng năm chiếc sọ của những người chết trùng giờ hung để khóa long mạch sông Hồng, xích sắt giam cầm hàng vạn vong hồn tội nghiệp dưới lòng sông để mượn lực lượng oán khí của họ. Mày muốn phá trận của lão, nếu chỉ dùng Thước Tầm Long để chém giết, giết sạch âm binh của lão, thì mày cũng chỉ là một kẻ sát nhân cõi âm mà thôi. Sát ý của mày sẽ chỉ làm tăng thêm oán khí cho trận pháp của lão, khiến lão càng thêm mạnh mẽ.”

Tôi nhíu mày, khẽ hỏi: “Vậy cháu phải làm thế nào thưa Ông Tư?”

Ông Tư Lành mỉm cười, đôi mắt sáng quắc như chim ưng đêm:

“Mày có Sổ Tay Da Bò bảo hộ, có Âm Đức mười đời của dòng họ Trần tích lũy. Trận chiến này, mày không được dùng ‘Sát’ để đối đầu với tà thuật, mà phải dùng ‘Độ’. Mày phải dùng Âm Đức thuần khiết nhất của mày để ‘Độ’ cho những vong hồn đang bị xích sắt của lão giam cầm dưới lòng sông Hồng. Khi hàng vạn vong hồn được giải thoát khỏi sự khống chế, xích bùa chú của lão sẽ tự gãy, trận pháp tự khắc sụp đổ. Lúc đó, tà thuật phản phệ sẽ tự tay kết liễu mạng sống của lão Tám Hoài mà mày không cần phải nhuốm máu của mình.”

Lời răn dạy của Ông Tư Lành giống như một luồng sấm sét xé toạc màn sương mù trong tâm trí tôi. Tôi bừng tỉnh ngộ. Hóa ra, đạo lý của nghề gom xác không phải là tiêu diệt tà ma bằng bạo lực, mà là dùng lòng trắc ẩn, dùng sự thấu hiểu nhân quả để giải oan cho người chết, đòi lại công lý cho người sống.

Cuốn Sổ Tay Da Bò trong túi áo ngực tôi bỗng nhiên tỏa ra một luồng nhiệt lượng ấm áp, nhẹ nhàng rung lên bần bật như đồng thuận với lời răn dạy của Ông Tư Lành. Một trang giấy da bò tự động hiện lên trong tâm trí tôi, tỏa ra ánh sáng vàng kim rực rỡ, sưởi ấm khắp lồng ngực.

“Con hiểu rồi, thưa Ông Tư.” Tôi đứng dậy, cúi đầu chào ông lão một mắt một cách kính cẩn nhất. “Con sẽ dùng Âm Đức để phá trận, dùng lòng trắc ẩn để độ vong. Con sẽ bắt Lão Tám Hoài phải trả giá bằng chính luật nhân quả mà lão đã chà đạp suốt nửa đời người.”

Ông Tư Lành khẽ gật đầu, gương mặt già nua hằn sâu những nếp nhăn sương gió hiện lên một nụ cười ấm áp, tự hào:

“Tốt lắm, thằng ranh con. Mau cút về tiệm An Lạc mà ăn mì tôm với thằng béo đi. Nhớ giữ cái mạng của mày mà về đây quét dọn nghĩa trang cho tao. Cái thân già này không còn nhiều sức để dọn dẹp đống rác của mày bày ra đâu.”

Tôi mỉm cười, dắt Thước Tầm Long vào hông, chỉnh lại chiếc áo khoác đen bạc màu rồi bước ra ngoài màn đêm sương mù.

Tiếng xe Cup 81 nổ máy giòn giã giữa nghĩa trang hoang vắng, lao vút đi trong bóng tối hướng về phía ngõ Khâm Thiên. Phía sau tôi, dưới hiên chòi canh nhỏ bé, ánh lửa củi bập bùng vẫn hắt ra một quầng sáng ấm áp, sưởi ấm cả một góc nghĩa trang lạnh lẽo. Ông Tư Lành vẫn ngồi đó, trầm mặc rít thêm một hơi thuốc lào, khói tỏa bảng lảng vào hư không như một lời cầu nguyện bình an cho kẻ gác cổng trẻ tuổi cõi âm dương.

Trận chiến đêm nguyệt thực sau hai ngày nữa sẽ là một trận chiến vô tiền khoáng hậu, và kẻ gom xác Trần Sinh tôi đã sẵn sàng đón nhận kiếp nạn này với một tâm thế kiên định nhất!

Tùy chỉnh hiển thị

18px
1.8