Sổ Tay Bắt Ma Của Kẻ Gom Xác
Chương 79: Đêm tĩnh lặng trước cơn bão

Cập nhật lúc: 2026-07-02 18:32:51 | Lượt xem: 5

Tiếng động cơ của chiếc xe tải IFA cũ kỹ gầm rú qua những ổ gà ngập sương muối, đưa ba thầy trò chúng tôi rời khỏi con ngõ Khâm Thiên chật chội để quay trở về nghĩa trang ngoại ô. Đêm nay, Vũ Thúy Quỳnh đã vắng mặt. Đồng chí cảnh sát của tôi đang phải bận rộn với những cuộc họp khẩn cấp tại Sở, phối hợp cùng Nghĩa để âm thầm thiết lập một vành đai phong tỏa nghiêm ngặt xung quanh dốc Quỷ Khóc dưới danh nghĩa điều tra vụ án mạng của Trần Phong. Quỳnh lo việc dương gian, còn thầy trò tôi lo việc âm phần. Sự phân chia này rõ ràng, sòng phẳng, nhưng cũng khiến khoảng trống bên cạnh tôi trên cabin xe tải trở nên rộng hoác và lạnh lẽo lạ thường.

Nghĩa trang ngoại ô Hà Nội vào những ngày cận Tết năm 1995 hiện ra như một bãi tha ma khổng lồ chìm trong màn sương mù xám ngoét. Những rặng phi lao đen kịt đứng im lìm dưới trời mưa phùn, thỉnh thoảng lại rít lên những tiếng xào xạc thê lương khi có một luồng gió bấc thổi qua, nghe chẳng khác nào tiếng thở dài của hàng ngàn vong hồn đang nằm dưới tầng đất lạnh.

Tôi đỡ Ông Tư Lành bước xuống xe. Sức nặng từ cơ thể gầy gò, khô héo của ông đè lên vai tôi, nhẹ bẫng như một cành củi khô đã mục ruỗng. Vết thương trên bả vai trái của ông dù đã được quấn băng gạc trắng xóa nhưng vẫn rỉ ra thứ dịch đen nhạt, mang theo mùi tử khí nồng nặc trộn lẫn mùi rơm mục của đám âm binh. Ông ho húng hắng, mỗi tiếng ho đều khiến lồng ngực gầy giơ xương sườn nảy lên bần bật, nhưng đôi mắt một bên còn lại của ông vẫn sáng quắc, quét qua những ngôi mộ xung quanh như một con mãnh hổ già canh giữ lãnh địa.

“Đỡ tao vào chòi…” Ông Tư khàn giọng nói, hơi thở phả ra làn khói trắng đục. “Cái tiệm An Lạc của mày ấm thì ấm thật, nhưng ngột ngạt mùi nhang bài quá. Tao sống ở nghĩa trang này nửa đời người, ngửi mùi đất quen rồi. Về đây tao mới dễ thở.”

Phát béo lúi húi đi phía sau, hai tay ôm khư khư cái cối đá giã tỏi trộn chu sa cùng chiếc chày gỗ dâu tằm. Gã vừa đi vừa run cầm cập, cái mông mập mạp lắc qua lắc lại theo từng bước chân vội vã. Vừa bước chân vào bên trong chòi canh vách nứa rách nát, gã đã lập tức đặt cối đá xuống, lật đật nhóm bếp than tổ ong đặt giữa nhà.

“Trời đất ơi, cái lạnh ở cái nghĩa trang này đúng là muốn lấy mạng người ta mà!” Phát béo vừa phồng mồm trợn mắt thổi vào lò than, vừa lầm bầm phàn nàn. “Anh Sinh này, tao nói thật, ngày mai đi dốc Quỷ Khóc rồi, lỡ đêm nay Lão Tám Hoài thừa cơ mò tới đây úp sọt thì có mà thành ba thầy trò nhà cá nằm trên thớt. Tao còn chưa được ăn chầu phở bò đặc biệt mày hứa bao đâu đấy nhé. Chết ở đây là tao làm con ma đói đi bám theo mày suốt đời!”

“Ngậm cái miệng ăn hại của mày lại đi thằng béo,” tôi tựa Ông Tư Lành ngồi nghỉ trên chiếc phản gỗ cũ, rồi kéo một chiếc ghế đẩu ra góc chòi, đặt cuốn Sổ Tay Da Bò lên bàn tre. “Lão Tám Hoài vừa bị phản phệ tà thuật ở Giảng Võ, lại bị tao thiêu rụi con Quỷ Mực của Hoàng Sẹo, giờ lão đang lo sốt vó để giữ cái mạng tàn hằng giờ hằng phút, lấy đâu ra hơi sức mà mò đến đây. Lo mà nướng mấy củ khoai lang cho chín đi, cằn nhằn nữa là tao trừ sạch lương tháng này của mày.”

Phát béo nghe đến hai chữ “trừ lương” thì lập tức im bặt, mặt mếu máo như bánh bao nhúng nước, nhưng tay vẫn thoăn thoắt xếp mấy củ khoai lang vào rìa lò than. Gã lấy ra một hũ sứ nhỏ, đổ thứ rượu màu đỏ sẫm vào chiếc ấm nhôm rồi đặt lên bếp. Mùi rượu gừng nồng ấm lập tức lan tỏa, quyện cùng mùi đất ẩm và mùi nhang bài đặc chế tạo nên một bầu không khí u tịch nhưng ấm áp đến lạ kỳ, tạm thời đẩy lùi cái lạnh buốt giá đang bủa vây bên ngoài vách nứa.

Tôi ngồi lặng lẽ, lấy chiếc đá mài ướt nhỏ bỏ túi ra, tỉ mẩn mài lại lưỡi Thước Tầm Long bằng đồng. Tiếng mài “xoèn xoẹt” đều đặn, nhịp nhàng vang lên trong không gian tĩnh lặng của chòi canh. Ánh sáng vàng vọt, tù mù từ ngọn đèn bão đặt trên bàn tre hắt lên khuôn mặt góc cạnh, hơi tái đi vì thiếu ngủ của tôi. Tôi nhìn lưỡi thước đồng dần hiện lên những ánh kim loại sắc bén, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi hoài nghi vô hình.

Tôi tự giễu cuộc đời mình. Hai mươi sáu tuổi, cái tuổi mà những gã thanh niên ngoài kia đang bận rộn yêu đương, lo nghĩ chuyện cưới xin, hay chí ít là tụ tập uống bia hơi vỉa hè phố Tạ Hiện, thì tôi lại ngồi đây, giữa một bãi tha ma hoang vắng, bầu bạn với một ông già sắp chết và một gã béo nhát gan, chuẩn bị cho một trận chiến quyết định mạng sống với một thầy tà đứng đầu giới âm phần Thăng Long. Có những lúc, tôi tự hỏi liệu tất cả những chuyện này có đáng không? Việc tôi gánh vác cuốn Sổ Tay Da Bò này, đi gom xác chết oan, tích lũy âm đức, có thực sự là sứ mệnh cao cả của kẻ gác cổng hai cõi âm dương, hay chỉ là một cái bẫy phong thủy truyền đời mà dòng họ Trần đã tự giăng ra để trói buộc con cháu vào một vòng lặp nhân quả không lối thoát?

“Thằng ranh con, mày đang nghĩ bậy bạ gì đấy?”

Giọng nói khàn đặc của Ông Tư Lành cắt đứt dòng suy nghĩ mông lung của tôi. Ông gượng ngồi dậy, lưng tựa vào vách nứa, một mắt còn lại nheo nheo nhìn tôi đầy dò xét.

Tôi dừng tay mài thước, rót một chén rượu ấm từ ấm nhôm ra đưa cho ông: “Con không nghĩ gì cả. Chỉ là thấy đêm nay yên tĩnh quá, yên tĩnh đến mức khiến người ta cảm thấy có chút… không chân thật.”

Ông Tư Lành đón lấy chén rượu. Thứ rượu này không phải rượu thường, mà là rượu nếp cái hoa vàng được ông ngâm cùng rễ cau, địa liền và bột chu sa đặc chế theo công thức bí truyền của phái Nội Đạo. Đối với người thường, đây là thứ rượu cực độc, uống vào là cháy ruột cháy gan; nhưng đối với người đang bị tà độc hoại tử tàn phá như ông, đây lại là thứ “thuốc độc trị độc” duy nhất có thể tạm thời đóng băng oán khí đen ngòm đang gặm nhấm kinh mạch, giúp ông giữ được chút tỉnh táo cuối cùng trước khi tà khí xâm nhập vào tim.

Ông uống cạn chén rượu ấm trong một hơi. Luồng rượu nóng bỏng chạy dọc cổ họng khiến cơ thể gầy gò của ông run lên bần bật. Một vệt hồng tà dị, không tự nhiên bỗng hiện lên trên hai gò má nhăn nheo của ông — hiện tượng phản quang hồi chiếu của kẻ sắp cạn kiệt sinh mệnh. Ông khà ra một hơi rượu nồng nặc mùi chu sa, rồi với lấy chiếc tẩu gỗ mun bên cạnh, nhồi vào đó một nhúm thuốc lào sợi vàng óng.

“Đêm trước cơn bão lúc nào chẳng yên tĩnh,” Ông Tư Lành rít một hơi thuốc lào thật sâu. Đốm lửa đỏ rực lên trong bóng tối của chòi canh, soi rõ những nếp nhăn sâu hoắm như những rãnh cày trên khuôn mặt ông. Khói thuốc trắng đục, thơm nồng bay lên, lờ lững bao quanh ba thầy trò chúng tôi. “Mày đang sợ đúng không, Trần Sinh?”

“Con không sợ chết,” tôi nhìn thẳng vào mắt ông, giọng trầm xuống. “Con chỉ sợ mình đi sai đường. Con sợ cái sát niệm trong lòng mình lúc này quá lớn. Mỗi lần nghĩ đến cảnh bố mẹ con bị hại chết mười năm trước, nghĩ đến việc Lão Tám Hoài giày xéo di cốt của chị Lượm, lột da đầu của những cô gái vô tội… con chỉ muốn dùng Thước Tầm Long này chém nát đầu lão ra làm trăm mảnh. Nhưng ông từng dạy con, kẻ gom xác không được mang sát ý.”

Ông Tư Lành không trả lời ngay. Ông nhả ra một vòng khói thuốc tròn trịa, ánh mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi những đốm lửa ma trơi xanh lét thỉnh thoảng lại lập lòe bay lên từ những ngôi mộ hoang phía xa.

“Mày có biết tại sao mười năm trước, bố mẹ mày lại gặp tai nạn lật xe ở khúc đê sông Hồng không?” Ông Tư Lành bỗng cất giọng đều đều, tông giọng trầm khàn mang theo một nỗi u uẩn của quá khứ.

Tôi nín thở, hai tay siết chặt lấy Thước Tầm Long: “Con chỉ biết họ chết vì tai nạn. Nhưng sau này con nhận ra có tà thuật của Lão Tám Hoài can thiệp.”

“Không đơn giản chỉ là can thiệp,” Ông Tư Lành lắc đầu, nhấp thêm một ngụm rượu ấm. “Năm đó, Lão Tám Hoài chưa có thế lực lớn như bây giờ. Lão chỉ là một gã thầy pháp hạng bét, điên cuồng vì muốn luyện Thiên Linh Cái để đổi vận giàu sang. Lão đã lén lút đào trộm mộ của một cô gái trẻ chết giờ trùng ở bãi giữa sông Hồng để lấy tà cốt. Bố mẹ mày, với tư cách là phu gom xác của dòng họ Trần, đã phát hiện ra hành vi đại nghịch bất đạo đó. Bố mày, Trần Chân, đã dùng chính cây Thước Tầm Long mày đang cầm trên tay, chém đứt lìa cánh tay phải của lão, phá nát đàn tế xương người lúc bấy giờ.”

Phát béo đang lật khoai lang bỗng dừng phăng tay lại, hai mắt tròn xoe nhìn Ông Tư Lành, miệng há hốc không thốt nên lời.

“Lão Tám Hoài căm hận tột cùng,” Ông Tư Lành tiếp tục kể, giọng ông run lên nhẹ vì xúc động. “Lão biết không thể đấu lại dương khí thuần khiết mười đời của dòng họ Trần bằng pháp thuật đối diện, nên đã dùng một thủ đoạn hèn hạ nhất. Lão gieo tà trùng vào bánh xe tải của bố mày. Đêm đó trời mưa bão dữ dội, chiếc xe mất lái lao xuống đập đá đê sông Hồng. Khi tao đến hiện trường, bố mẹ mày đã tắt thở, nhưng hai bàn tay của họ vẫn nắm chặt lấy nhau, khuôn mặt thanh thản như đang ngủ. Họ chết để bảo vệ tôn nghiêm của nghề gom xác, bảo vệ những vong linh không bị kẻ tà đạo giày xéo.”

Nước mắt tôi không biết từ lúc nào đã rỉ ra ở khóe mi, nóng hổi và mặn chát. Tôi cắn chặt răng đến mức nghe rõ tiếng xương quai hàm kêu ken két. Sát ý trong lòng tôi lúc này như một con thú dữ bị xích bấy lâu nay, giờ đã giật đứt xích bảo vệ và chực chờ lao ra cắn xé.

“Vậy tại sao… tại sao suốt mười năm qua Lão Tám Hoài không dám động đến con?” Tôi gằn giọng hỏi. “Tại sao lão phải đợi đến tận bây giờ mới lập đại trận?”

Ông Tư Lành nhìn tôi, ánh mắt một bên của ông chứa đựng một sự xót xa vô hạn. Ông đưa bàn tay gầy gò, run rẩy vỗ nhẹ lên cuốn Sổ Tay Da Bò đặt trên bàn tre.

“Bởi vì ông nội mày, Trần Đại, trước khi nhắm mắt xuôi tay đã làm một việc mà cả đời tao chưa từng thấy ai dám làm,” Ông Tư khàn giọng nói. “Mày có biết tại sao cuốn Sổ Tay Da Bò này lại có màu đỏ sẫm như máu khô không? Và tại sao mỗi lần mày siêu độ cho một vong hồn, nó lại ban cho mày một phần vía?”

Tôi bàng hoàng nhìn cuốn sổ tay. Đúng vậy, tôi chưa bao giờ thắc mắc về nguồn gốc thực sự của cuốn sổ này. Tôi chỉ biết nó là di vật của ông nội để lại.

“Cuốn sổ này…” Ông Tư Lành hạ thấp giọng, tiếng ông nhỏ đến mức bị tiếng gió rít ngoài vách nứa nuốt chửng một nửa. “Nó được làm từ da lưng của chính tổ tiên Lão Tám Hoài — kẻ đã phản bội dòng họ Trần mười đời trước để đi theo tà đạo, tự tay sát hại phu liệm của dòng họ mày. Để hóa giải lời nguyền nợ máu truyền đời, tổ tiên mày đã dùng thuật đoạt hồn, lột da lưng của kẻ đó để làm ra cuốn sổ này, dùng chính oán khí của dòng họ Nguyễn Hữu để nuôi dưỡng dương khí cho dòng họ Trần. Cuốn sổ này là một khế ước giam cầm nhân quả của cả hai dòng họ.”

Tôi rùng mình, lùi lại một bước, chiếc ghế đẩu gỗ suýt chút nữa bị gạt đổ. Tôi nhìn cuốn Sổ Tay Da Bò đang nằm im lìm trên bàn tre. Dưới ánh đèn bão, lớp da bò thô ráp của nó bỗng nhiên như đang phập phồng thở hít, rỉ ra những vệt màu vàng kim ấm áp nhưng cũng đầy tà dị. Thì ra bấy lâu nay, thứ tôi mang theo bên người, thứ giúp tôi trừ tà diệt quỷ, lại là một vật phẩm được tạo ra từ một tội ác kinh hoàng của quá khứ. Tôi có khác gì Lão Tám Hoài? Tôi có khác gì những kẻ tà đạo dùng xác người để luyện bùa ngải?

Nỗi sợ hãi và hoài nghi tột cùng dâng lên trong đại não tôi, khiến tôi cảm thấy đầu óc mình quay cuồng, ngực đau nhói như bị một tảng đá ngàn cân đè nặng. Tôi run rẩy nhìn bàn tay mình, bàn tay đã khâu lại hàng chục xác chết oan khuất. Liệu tất cả những việc tôi làm có thực sự là tích lũy âm đức, hay tôi chỉ là một con rối đang được nuôi béo bằng oán khí của người chết, để rồi đến một ngày, cuốn sổ này sẽ quay lại nuốt chửng chính linh hồn của tôi để hoàn thành khế ước?

“Cốp!”

Một tiếng gõ khô khốc, đau điếng vang lên ngay giữa đỉnh đầu tôi. Tôi giật nảy mình, ôm đầu nhìn lại. Ông Tư Lành đã rướn người lên, dùng chiếc tẩu gỗ mun gõ mạnh vào đầu tôi một phát chí mạng.

“Thằng ranh con! Mày lại nghĩ bậy nghĩ bạ rồi!” Ông Tư Lành mắng, giọng ông tuy khàn nhưng chứa đựng một uy lực vô hình khiến thần trí đang hỗn loạn của tôi lập tức bừng tỉnh. “Tao biết mày đang nghĩ gì. Mày nghĩ cuốn sổ này là tà vật đúng không? Mày nghĩ dòng họ Trần mày cũng là tà đạo đúng không?”

Tôi im lặng không dám trả lời, chỉ biết ôm đầu nhìn ông.

“Tà hay chính, không nằm ở vật phẩm, mà nằm ở bản tâm của kẻ sử dụng!” Ông Tư Lành gằn giọng, đôi mắt sáng quắc nhìn thẳng vào tâm can tôi. “Nếu tổ tiên mày dùng cuốn sổ này để hại người, để cướp đoạt vận mệnh như Lão Tám Hoài, thì dòng họ Trần đã tuyệt diệt từ lâu rồi chứ không thể truyền đến đời mày! Ông nội mày năm xưa, sau khi bố mẹ mày mất, đã tự trích sạch máu tim của mình, dùng mười đời Âm Đức tích lũy của dòng họ Trần để lập một cái phong ấn bằng máu thuần dương lên cuốn sổ này. Chính cái phong ấn đó đã khóa chặt tà cốt của Lão Tám Hoài suốt mười năm qua, khiến lão không thể tụ khí luyện trận, buộc lão phải ẩn mình chờ đợi. Ông nội mày đã dùng mạng sống của mình để đổi lấy mười năm bình an cho mày trưởng thành!”

Ông lão rít thêm một hơi thuốc, khói thuốc phả thẳng vào mặt tôi, mang theo mùi nhang bài ấm áp xua tan đi nỗi sợ hãi lạnh lẽo trong lòng tôi.

“Trần Sinh, nhớ kỹ cho tao. Nghề gom xác gác cổng âm dương, không phải để đi giết chóc. Người chết có oán, người sống có tội. Sát niệm dâng lên là mày tự thua rồi. Đêm mai, nếu mày mang theo sát ý ngút trời đến dốc Quỷ Khóc, mày sẽ rơi vào đúng cái bẫy của Lão Tám Hoài. Lão muốn mày nổi điên, muốn dương khí thuần khiết của mày bị nhuộm đen bởi sát niệm, từ đó mới có thể dễ dàng hiến tế mày cho Thiên Linh Đại Trận. Mày muốn thắng lão, không được dùng sát ý để diệt lão, mà phải dùng Âm Đức trong cuốn Sổ Tay Da Bò để độ hóa cho vạn vong linh bị lão giam giữ dưới sông Hồng. Khi oán khí của chúng tan biến, Thiên Linh Đại Trận tự khắc sụp đổ. Bản tâm của kẻ gom xác là lòng trắc ẩn, chứ không phải thanh kiếm đồ tể!”

Lời răn dạy của Ông Tư Lành như một luồng sấm sét nổ vang giữa đêm giông bão, đánh tan mọi đám mây hoài nghi, sợ hãi và sát niệm đang vây hãm tâm trí tôi. Tôi bừng tỉnh ngộ. Đúng vậy, bấy lâu nay tôi đi gom xác, khâu lại dung nhan cho những người chết oan, tôi làm việc đó bằng lòng trắc ẩn thực sự chứ không phải vì ham muốn sức mạnh. Sự biết ơn của anh Thịnh, của chị Lượm, của chị Hoa, của Trịnh Thị Mai… những đốm sáng vàng kim ấm áp chảy vào cuốn Sổ Tay Da Bò chính là minh chứng rõ ràng nhất. Dòng họ Trần của tôi gác cổng âm dương bằng Âm Đức, chứ không phải bằng tà thuật đoạt hồn.

Tôi cúi đầu, hai tay dâng chén rượu ấm lên trước mặt Ông Tư Lành: “Con hiểu rồi, thưa Ông Tư. Con xin ghi nhớ lời dạy của ông.”

Ông Tư Lành nhìn tôi, khóe miệng nhăn nheo của ông khẽ nhếch lên một nụ cười hiền từ, tự hào chưa từng có. Ông đón lấy chén rượu, uống cạn chén rượu ấm thứ hai.

Lúc này, Phát béo ở bên cạnh bỗng sụt sịt mũi. Gã mập mạp của tôi mắt đã đỏ hoe từ lúc nào. Gã không đùa giỡn, không cằn nhằn đòi ăn phở bò nữa. Gã đứng bật dậy, tay cầm khư khư chiếc chày gỗ dâu tằm, gằn giọng nói bằng một tông giọng nghiêm túc hiếm hoi:

“Con không biết đại trận đại pháp gì hết. Con cũng không biết nhân quả mười đời của dòng họ Trần ra sao. Nhưng con biết anh Sinh là sếp của con, là người đã cứu vía con từ cõi âm về. Ngày mai, đứa nào dám động vào anh Sinh, con sẽ dùng cái chày dâu tằm này đập nát sọ đứa đó! Xe tải IFA con đã dán kín ba trăm lá bùa Sắc Lệnh rồi, ngày mai con sẽ làm lá chắn cho anh Sinh húc bay cái đàn tế của Lão Tám Hoài!”

Tôi nhìn Phát béo, lồng ngực bỗng dâng lên một luồng cảm xúc ấm áp, nghẹn ngào. Tôi đấm mạnh vào vai gã: “Cảm ơn mày, thằng béo.”

“Cảm ơn cái khỉ mốc,” Phát béo mếu máo, quệt nước mũi vào tay áo khoác. “Nhớ ngày mai xong việc phải bao tao mười bát phở bò đặc biệt đấy nhé. Không là tao đình công thật đấy!”

Ông Tư Lành cười khà khà, tiếng cười khàn đặc vang vọng trong chòi canh vắng. Ông xua tay bảo hai đứa chúng tôi: “Được rồi, hai thằng ranh con đã lớn thật rồi. Đêm đã khuya, nằm xuống phản nghỉ ngơi đi. Ngày mai sẽ là một ngày dài đấy.”

Tôi đồng ý, dập tắt ngọn đèn bão, chỉ để lại ánh sáng đỏ rực, ấm áp từ lò than tổ ong giữa chòi. Phát béo nằm bò ra một góc phản, chỉ vài phút sau đã phát ra tiếng ngáy o o đều đặn như sấm rền, cái chày dâu tằm vẫn được gã ôm chặt trong lòng như ôm người tình.

Tôi ngồi xếp bằng dưới đất, tựa lưng vào cột chòi canh, nhắm mắt lại. Tôi bắt đầu vận chuyển luồng Thủy Vía nhận từ vong hồn Lê Văn Thịnh chạy dọc theo các đường kinh mạch trong cơ thể. Cuốn Sổ Tay Da Bò đặt trong túi áo ngực tôi bỗng nhiên tỏa ra một luồng nhiệt lượng vàng kim ấm áp, dịu nhẹ. Luồng dương khí tinh khiết đó từ từ len lỏi vào từng thớ thịt, từng mạch máu, xoa dịu đi vết thương cũ trên bả vai trái của tôi, đồng thời giúp tu vi Nhập Trần viên mãn cực hạn của tôi trở nên cô đọng, vững chắc và sắc bén hơn bao giờ hết.

Ngoài kia, mưa phùn vẫn rơi rơi, tiếng gió rít qua rặng phi lao vẫn thê lương, nhưng trong lòng tôi lúc này, một sự tĩnh lặng tột cùng đã ngự trị. Đêm tĩnh lặng trước cơn bão, và tôi đã sẵn sàng đối mặt với bão giông.

Tùy chỉnh hiển thị

18px
1.8